Chương 5: Ngọn lửa trong lò gốm

Người chạy tin tên Rạ dẫn Thanh men theo chân thành về phía nam. Trời mới sáng nhưng con đường đã phủ một lớp tro mỏng. Mỗi bước chân giẫm xuống đều để lại dấu xám trên đất ướt. Càng gần phường gốm, mùi bùn sông càng nhường chỗ cho mùi rơm cháy, gỗ tươi và đất nung. Khói không bay thành cột. Nó bò thấp qua mái nhà, quẩn trong những giàn phơi bát rồi tràn ra đường như sương bẩn. Thanh hỏi: “Lò nứt từ lúc nào?” “Cuối canh đêm.” “Vì sao đến giờ mới báo?” Rạ bước nhanh hơn, không quay lại. “Lúc đầu chỉ nghe một tiếng nhỏ. Trưởng lò bảo trét lại được. Đến khi vết nứt ăn qua vai lò, ông mới cho người đi gọi thợ đắp. Tôn Thị Sên nghe chuyện, biết Công Thị đang ở bến nên bảo tôi chạy tìm.” “Trong lò có gì?” “Một mẻ gồm chum đựng giống, hai dãy vò của kho muối và ba phiến đất thử còn lại.” “Có người ở trong không?” Rạ khựng chân một nhịp. “Không ai ở trong bụng lò. Nhưng cửa lửa phải có người giữ.” Câu trả lời không làm Thanh nhẹ đi. Nàng nhìn hai cánh tay Rạ. Lông trên cánh tay đã sém quăn, mu bàn tay có một vệt phồng mới nổi. Phường gốm hiện ra sau một hàng cây dầu. Những mái lò lớn nhô lên khỏi dãy nhà thấp, tròn và sẫm như các gò đất. Lò đang gặp nạn nằm cuối bãi, nửa chìm trong sườn gò. Quanh nó, hơn ba mươi người chạy qua chạy lại, người gánh đất nhão, người chuyền củi, người kéo những vò nước từ giếng. Không ai đổ nước vào lò. Nước chỉ dùng để nhào đất bịt vết nứt. Sau các mái lò là bãi gỗ được chia như một khu rừng thu nhỏ. Thân dầu thẳng dành chống vòm; cành nhỏ khô dùng đánh lửa; gỗ còn vỏ cho nhiệt bền; rễ cong cháy chậm được giữ cho cuối mẻ. Mỗi bó mang dấu của sườn đồi, người đốn và mùa hong. Một chiếc lò chỉ phô ra ngọn lửa, nhưng để nuôi được nó, nhiều khoảnh rừng, nhiều con đường kéo gỗ và nhiều bàn tay phải tìm cách đứng cùng nhau. Vết nứt bắt đầu từ gần cửa lửa, chạy xiên lên vai lò rồi mất hút dưới lớp khói. Đất trét mới trên miệng nứt đã khô trắng, co lại và rơi từng mảng. Mỗi lần bên trong dội ra một tiếng ù, đường nứt lại nhả một sợi lửa mảnh. Một người đàn ông mặc áo vải ngắn đã sẫm mồ hôi đứng sát cửa lò. Tay áo ông được buộc gọn, tóc cháy cụt một bên, vùng da quanh cổ và vai đỏ rực vì hơi nóng. Ông không nhìn Thanh khi nàng đến. “Rạ, thêm củi vào cửa đông.” Rạ vừa định chạy thì Thanh giữ lại. “Công Thị vừa từ bến về.” Người đàn ông quay sang. Mắt ông đỏ vì khói, nhưng giọng vẫn chắc. “Công Thị được mời đến xem dấu trên vật thử. Việc giữ lò xin để người trong phường lo.” “Trưởng lò?” “Tôi là Lưu.” “Vết nứt đã qua vai. Vì sao còn cho thêm củi?” Lưu nhìn nàng như nhìn một người vừa hỏi tại sao nước phải chảy xuống thấp. “Lửa tụt thì cả mẻ chết.” “Nếu lò sập?” “Chum chết trước.” Thanh nghe rõ tiếng những người quanh đó im đi. Họ không ngừng tay, nhưng ai cũng đang đợi xem nàng sẽ dùng địa vị ép trưởng lò hay lùi ra ngoài. Nàng buông tay Rạ. “Tôi không biết giữ lò. Tôi cần biết ai đang nghe được nó.” Lưu chỉ một bà lão ngồi dưới mái che cách lò hơn mười bước. Bà có đôi mắt phủ một lớp đục mỏng, trước mặt đặt sáu thanh gỗ dài ngắn khác nhau. Một đầu mỗi thanh tì xuống đất, đầu kia ghé gần tai bà. “Tôn Thị Sên nghe lò,” Lưu nói. “Công Thị muốn hỏi gì thì hỏi nhanh. Đến giữa buổi phải mở lỗ xem lửa.” Thanh đến bên bà lão. Tôn Thị Sên không ngẩng đầu. “Đừng đứng chắn gió.” Thanh bước sang một bên. “Tôn Thị đang nghe gì?” “Nghe một lò bị người ta cho ăn quá no.” Lưu ở phía xa quát: “Cửa đông đang thiếu!” Tôn Thị Sên nhếch miệng. “Miệng thiếu, bụng thừa. Nó không biết nghe cả câu.” Bà đưa cho Thanh thanh gỗ ngắn nhất. “Đặt xuống đây.” Thanh tì đầu thanh gỗ vào một phiến đá chôn nửa dưới đất. Nàng ghé tai vào đầu còn lại. Thoạt đầu chỉ có tiếng người, tiếng gánh đất và tiếng củi va nhau. Rồi dưới tất cả những âm ấy hiện ra một nhịp trầm, đều như ai đập tay lên một chiếc chum lớn. Cứ sau bốn nhịp lại có một tiếng rít mảnh kéo dài. “Tiếng rít là hơi qua vết nứt?” nàng hỏi. “Một phần.” “Phần còn lại?” “Lửa đang trèo.” Thanh bỏ thanh gỗ xuống. “Lửa chỉ có thể bốc lên.” “Một ngọn thì bốc. Nhiều ngọn phải giành đường.” Tôn Thị Sên chỉ những bó củi xếp quanh sân. “Lửa đi theo con đường gỗ mở cho nó. Cành nào cũng muốn bắt trước, thân nào cũng muốn giữ lâu. Xếp sai một lớp, đám cháy mạnh nhất sẽ chiếm hết đường như cây lớn xòe tán, ép những cây dưới nó chết tối.” Tôn Thị Sên dùng đầu ngón tay gõ lên mặt đất. Bà nói lò có bảy đường lửa chạy từ ba cửa thấp, ôm quanh những chồng chum rồi gặp nhau dưới vòm. Nếu củi được thêm đều, lửa chia nhau len qua các khoảng trống. Nếu một cửa bị thúc quá mạnh, luồng nóng chiếm đường rộng, dồn các luồng còn lại sang vai lò. Chỗ đang nứt chính là nơi hai đường lửa ép nhau tìm lối thoát. “Lưu có biết không?” “Nó biết cách đã cứu ba mẻ trước. Ba mẻ trước không xếp chum như mẻ này.” Thanh nhìn qua lỗ quan sát nhỏ ở thân lò. Bên trong chỉ là một màu đỏ khiến mắt đau nhói. Nàng không thấy chum nào, càng không thấy được những đường lửa vô hình Tôn Thị Sên vừa tả. “Tôn biết cách xếp trong ấy?” “Ta sờ từng đáy chum trước khi người ta bít cửa.” “Có bản xếp lò không?” Tôn Thị Sên cười khàn. “Có. Nằm trong chân, vai, tai và những vết bỏng của người làm.” Thanh mở túi thẻ mang theo, rồi dừng lại. Nàng có thể ghi bảy đường lửa, ba cửa thấp, bốn nhịp một tiếng rít. Nhưng những con số ấy chưa cho nàng nghe được một cái lò. Nàng hỏi: “Tôn dạy một người mới bằng cách nào?” “Cho nó gánh củi.” “Sau đó?” “Cho nó chẻ củi.” “Rồi?” “Cho nó đứng ngoài một mẻ, ngồi cạnh một mẻ, cháy lông mày ở mẻ thứ ba. Nếu sau ba mẻ vẫn chỉ hỏi ‘rồi sao’, ta đuổi.” Thanh cất thẻ đi. • • • Giữa buổi, vết nứt dài thêm một gang tay. Đất mới trét không còn bám. Lưu cho dựng một giàn chống bằng những thân cây dầu còn tươi, đầu chèn vào vai lò. Nhựa cây gặp nóng sôi lên, chảy thành những giọt trong rồi hóa đen. Người phường gốm khiêng thêm các thân khác đến, chen kín quanh lò như một rừng cây bị đốn mà vẫn cố đứng. Không thân nào đủ sức giữ vai lò một mình. Cây thẳng nhận lực từ vòm, cây cong ghìm chân cây thẳng, những nêm gỗ nhỏ lấp khoảng trống và truyền sức xuống đất. Cả giàn chống đứng được vì mỗi thân chịu một hướng khác nhau. Chặt bỏ một cây tưởng là thừa có thể khiến ba cây còn lại cùng bật gốc. Thanh đi cùng một cô thợ trẻ tên Dọi qua từng cửa lửa. Dọi không biết giải thích màu nóng bằng lời. Cô nhặt ba mảnh gốm, đặt cách cửa những khoảng khác nhau rồi bảo Thanh nhìn. Mảnh gần nhất đỏ lên trước nhưng màu đỏ chạy loang. Mảnh ở giữa nóng chậm, đều từ cạnh vào tâm. Mảnh xa nhất chỉ sẫm lại ở một đầu. “Mẻ tốt giống mảnh nào?” Thanh hỏi. Dọi chỉ mảnh ở giữa. “Vì sao?” Cô gái suy nghĩ, lắc đầu, rồi kéo bàn tay Thanh đến gần cửa lửa. Hơi nóng ép lên lòng bàn tay thành từng đợt. Dọi di chuyển tay nàng từ trái sang phải. Ở giữa cửa, sức nóng mạnh nhưng phẳng. Sát cạnh phải, nó giật từng cơn như hơi thở gấp. “Chỗ này đang ăn củi,” Dọi nói. Đó là câu dài nhất cô nói từ lúc Thanh đến. Thanh nhìn chồng nhiên liệu. Củi ở cửa phải là những cành nhỏ, khô và thẳng; củi ở cửa giữa to hơn, còn vỏ; cửa trái dùng gỗ cong lẫn rễ cây. Lưu đã sai người gom mọi thứ cháy được vì muốn giữ mẻ. Nhưng mỗi thứ cho lửa một nhịp khác nhau. “Ai chia củi?” “Trước đây là Tôn Thị Sên. Hai mùa nay là Thiết Lưu.” “Thiết Lưu chia sai?” Dọi lập tức lùi nửa bước. “Tôi không nói.” “Nhưng Công Thị biết.” Cô gái nhìn về phía trưởng lò. “Biết không có nghĩa được quyền ngắt tay người giữ lửa.” Thanh hiểu một cái lò không chỉ có những đường nóng tranh nhau. Quanh nó cũng có những tiếng nói đang cố tìm đường tới người quyết định. Lưu đứng ở cửa chính nên mọi mệnh lệnh đều qua ông. Tôn Thị Sên nghe được phần dưới đất nhưng không còn giữ quyền chia củi. Dọi cảm lửa bằng bàn tay mà chỉ được chuyền đất. Rạ chạy nhanh nhất nên bị sai tới bất cứ chỗ nào thiếu người, không ở đâu đủ lâu để học trọn một việc. Chiếc lò nứt không chỉ vì lửa đi sai. Những người quanh nó cũng đã dồn mọi quyết định vào một người, trong khi tri thức lại nằm rải ở nhiều bàn tay. Điều Dọi cảm thấy, điều Rạ nhìn thấy và điều Tôn Thị Sên nghe được đều phải chờ Lưu cho phép mới trở thành lời cảnh báo. Một tiếng nổ khô vang lên trong lò. Mọi người cùng quay lại. Từ lỗ quan sát, một vệt sáng trắng lóe lên rồi tắt. Sau đó là tiếng vật gì đổ liên tiếp, không lớn nhưng kéo dài. Lưu nhắm mắt một thoáng. “Một chồng vò đã nghiêng.” Tôn Thị Sên chống tay đứng dậy. “Không phải vò. Tầng kê phía đông gãy.” “Tôn ngồi ngoài thì thấy gì?” “Ta nghe vật nhỏ rơi trước, vật lớn chạm sau. Vò nghiêng thì miệng chạm nhau trước.” Lưu không đáp. Ông ghé lỗ nhìn, rồi bảo Rạ chuẩn bị mở cửa thử. Tôn Thị Sên quát: “Mở lúc này, gió lùa vào chỗ gãy. Lửa sẽ xuyên thẳng lên vai!” “Không mở thì không biết vật thử còn nguyên không.” Thanh hỏi: “Vật thử ấy là gì?” Lưu nhìn nàng. Lần đầu tiên vẻ cứng rắn trên mặt ông lay động. “Mười hai phiến đất lấy từ nền một nhà cũ bên bãi nam. Khi nung đúng nhiệt, dấu chìm mới hiện. Chín phiến đã vỡ trong các lần thử trước. Mẻ này còn ba.” Thanh mở lớp vải, đưa mảnh gốm ba màu cho Lưu nhìn. “Dấu giống mảnh ở chân cầu?” “Cùng ba lớp màu. Người của nhà giữ giống nói có thể liên quan vật Công Thị đang tìm.” Đó là lý do họ không chịu dừng. Không chỉ vì chum, vò hay công sức cả phường. Trong bụng lò đang có ba vật mà Thanh đã đi từ nhà giữ giống đến bến cũ để lần theo. Nếu chúng sống qua mẻ nung, nàng có thể nhìn thấy một cách tạo dấu mà những người chép thẻ không biết. Nếu tắt lò lúc này, đất đang nung dở sẽ co không đều; dấu chưa hiện, phiến thử có thể cong hoặc vỡ vụn. Nàng đến sát cửa quan sát. Qua khe hẹp, giữa những thân chum đỏ rực, nàng thấy trên một bệ thấp có ba vật mỏng dựng nghiêng. Một phiến đã cong. Hai phiến còn lại tối hơn phần xung quanh, như đang giữ trong mình một màu chưa chịu lộ. Lưu nói: “Chỉ cần giữ thêm đến khi nắng đứng bóng.” Tôn Thị Sên đáp: “Vai lò không giữ được.” “Nếu hạ lửa, mọi thứ chết ngay.” “Giữ lửa, có người chết cùng.” Những người đang chuyền đất chậm tay. Không ai bỏ vị trí. Họ đã làm quanh chiếc lò này từ nhỏ, đã sống nhờ những mẻ nung thành công và trả nợ bằng những mùa lửa hỏng. Với họ, bỏ một mẻ không đơn giản là để mất đồ. Đó có thể là kho giống thiếu chum trước mùa mưa, kho muối thiếu vò, cả phường phải gánh phần đất và củi đã vay. Thanh hỏi Lưu: “Nếu giữ thêm, trưởng lò cần ai ở lại?” “Tôi, Rạ, Dọi và bốn người cửa lửa.” “Nếu vai lò sập?” “Chúng tôi chạy.” Tôn Thị Sên nhổ xuống đất. “Lửa chạy nhanh hơn chân.” Lưu quay sang Thanh. “Công Thị đến tìm tri thức. Ba phiến kia có thể là thứ Công Thị cần. Xin đừng dùng một vết nứt để bắt cả phường tự tay chôn nó.” Thanh cảm thấy mảnh gốm bọc trong vải đang cấn vào hông. Khi ở nhà giữ giống, nàng đã trách người lập sổ vì bỏ đi những nút dây. Ở bến cũ, nàng đã xin giữ lại lời của người canh gáo. Nếu bây giờ ra lệnh tắt lò, chính nàng có thể là người làm mất một dấu vết không bao giờ tạo lại được. Nhưng trước mặt nàng là Rạ với cánh tay phồng rộp, Dọi với đôi bàn tay biết điều miệng không được phép nói, và những người đang chống cả thân mình vào các cây dầu tươi. Hơi nóng táp khô môi Thanh, nhưng lòng bàn tay nàng lại lạnh. Nếu nàng thúc mở ống sau, dấu trên ba phiến đất có thể mất. Nếu nàng chần chừ, một tiếng sập đủ chôn những người đang nhìn nàng chờ quyết định. Lần đầu tiên từ khi bước vào phường gốm, nàng sợ mình sẽ nói chậm hơn ngọn lửa. Nàng hỏi Tôn Thị Sên: “Có cách nào cứu người mà không dập cả lò không?” Bà lão nghiêng đầu nghe. Nhịp trầm dưới đất đã nhanh hơn. Tiếng rít không còn đến sau bốn nhịp; nó chen vào giữa nhịp thứ ba. “Mở đường cho lửa thoát lên ống sau,” bà nói. “Bỏ cửa đông, kéo hết người khỏi vai lò. Lửa sẽ yếu ở chỗ đặt vật thử. Có thể mất chúng. Nhưng lò chưa chắc sập.” Lưu lắc đầu. “Ống sau bị bịt từ ba mùa trước. Mở phải phá lớp vòm phụ.” “Vậy phá.” “Mẻ này sẽ không đủ nhiệt.” Thanh nhìn Lưu. “Trưởng lò vừa nói nếu hạ lửa, mọi thứ chết. Tôn Thị Sên nói mở ống sau có thể giữ được lò và cứu phần chum ở dưới. Hai điều không giống nhau.” Lưu siết hàm. “Công Thị muốn tôi tự bỏ ba phiến?” “Tôi muốn trưởng lò kéo người ra.” “Công Thị không có quyền giữ lò.” “Đúng. Tôi cũng không có quyền coi mạng người trong phường là giá phải trả cho thứ tôi đang tìm.” Nàng quay sang Rạ và Dọi. “Hai người rời cửa lửa. Báo mọi người tránh khỏi vai lò. Ai biết vị trí ống sau?” Dọi giơ tay. Lưu chặn trước mặt cô. “Ta chưa cho phép.” Dọi đứng yên. Khói làm nước mắt chảy trên má cô, nhưng lần này cô không lùi. “Thiết Lưu,” cô nói, “từ lúc tiếng rít đổi nhịp, cửa đông không còn ăn củi. Nó đang phun ngược. Thiết đứng cửa chính nên không thấy.” Rạ nói tiếp: “Lúc tôi chui xuống lấy tro, đất dưới ống sau còn nóng. Chưa bịt chết hẳn.” Một người thợ lớn tuổi ở hàng chuyền đất lên tiếng: “Tôi có búa đá.” Rồi một người khác bảo biết lớp vòm phụ mỏng ở đâu. Những lời bị nén từ đầu mẻ giờ bật ra từ nhiều phía. Lưu nhìn quanh. Dọi biết luồng lửa, Rạ biết khe tro, người cầm búa biết vòm phụ. Mệnh lệnh không còn chỉ đi từ miệng ông xuống những bàn tay khác. Ông quay mặt về lò, nghe một tiếng rạn dài chạy qua vòm. “Kéo người,” ông nói. • • • Tôn Thị Sên chỉ hướng luồng lửa sẽ phụt. Mọi người dọn sạch khoảng đất sau ống; người cầm búa đứng nép sang mép vòm rồi mới nện. Họ mở ống sau bằng sáu nhát. Nhát thứ nhất làm đất tróc. Nhát thứ hai lộ lớp gạch cũ. Nhát thứ ba khiến lò rung, tất cả cùng lùi. Đến nhát thứ sáu, một luồng lửa phụt khỏi lỗ vừa phá, dài quá đầu người. Nó cuốn tro, mảnh đất và lá khô lên trời. Mấy cây dầu gần đó cháy xém một phía, chim trong tán đồng loạt bay khỏi bãi. Sức ép trong vai lò nhẹ đi gần như ngay lập tức. Tiếng rít tắt, nhưng những thanh chống vẫn kêu cót két. Lưu ra hiệu đóng cửa đông. Tôn Thị Sên đợi luồng lửa sau ống ngắn xuống, rồi mới phất tay cho Dọi và Rạ áp vào từ phía khuất gió. Hai người dùng đất ướt lấp khe, lập tức lùi khỏi vùng nóng. Một đoạn vai lò sụp xuống sau họ. Đất nung vỡ tung, lộ một khoang đỏ quạch. Hai cây chống gãy, đầu cháy sáng như đuốc. Không ai đứng dưới đó. Lửa thoát qua ống sau suốt một lúc rồi ngắn dần. Mẻ nung không tắt hẳn, nhưng sức nóng đã rời khỏi tầng đặt vật thử. Qua lỗ quan sát, Thanh thấy bệ thấp nghiêng xuống. Một phiến đất rơi vào than. Hai phiến còn lại bị mảnh vòm phủ kín. Lưu ngồi xuống đất. Không ai nói với ông rằng lựa chọn vừa rồi là đúng. Những chum ở tầng dưới có thể còn dùng được, nhưng mẻ vò kho muối đã hỏng quá nửa. Ba phiến thử gần như mất chắc. Cái giá hiện ra trước mắt, còn những mạng người được giữ lại vẫn đang đứng đó nên dễ bị coi như chưa từng gặp nguy. Thanh đến bên ông. “Tôi sẽ ghi rõ chính tôi đã thúc giục mở ống sau.” Lưu cười mệt. “Ghi thế thì kho có trả lại củi cho chúng tôi không?” “Không.” “Có xóa được nợ chum?” “Không.” “Vậy đừng dùng một hàng chữ để nhận hết phần của người đã đập vòm.” Thanh im lặng. Lưu chống hai tay lên gối. “Công Thị chọn cứu người. Tôi không trách. Nhưng người sống rồi vẫn phải ăn, phải trả đất, trả củi. Nếu muốn ghi, hãy ghi cả điều ấy.” “Tôi sẽ ghi.” “Và ghi rằng tôi đã nghe Tôn Thị Sên mà không chịu tin.” Tôn Thị Sên đứng sau lưng họ. “Chưa cần ghi. Mẻ sau mày nghe.” Lưu quay lại. Bà lão đưa cho ông thanh gỗ ngắn nhất. Ông nhận. • • • Đến chiều, thân lò đủ nguội để người ta lại gần nhưng chưa thể mở. Phường gốm không giải tán. Họ dựng mái che mới, phân người canh lửa tàn và kiểm số chum có thể cứu. Dọi dùng than vạch cách xếp mẻ lên một tấm ván. Rạ đặt cạnh mỗi cửa một bó củi mẫu: cành nhỏ, thân vừa, rễ cong, gỗ còn vỏ. Tôn Thị Sên không cho họ ghi “củi” chung một tên. Thanh ngồi giữa họ, lần này mới mở túi thẻ. Nàng không bắt đầu bằng ba phiến đất vẫn chưa thể lấy ra khỏi lò. Nàng ghi tên từng người đã nghe thấy một phần của cái lò. Tôn Thị Sên nghe nhịp dưới nền. Dọi cảm luồng nóng ở mép cửa. Rạ biết các khe tro và đường ống thấp. Người chẻ củi biết loại nào cháy bùng, loại nào giữ than. Người xếp chum biết khoảng trống nào phải để lại cho lửa đi. Lưu biết lúc nào cả phường có thể chịu mất một mẻ và lúc nào không. Không ai trong số họ biết trọn chiếc lò. Điều giữ được lò không nằm trong một người, càng không nằm trong một hàng chữ. Nó nằm trong việc những phần hiểu biết rời nhau có thể truyền tới đúng người trước khi tai họa vượt khỏi tầm cứu chữa. Thanh không ghi câu ví von ấy. Nàng chỉ vẽ các đường nối giữa từng việc, rồi hỏi mọi người xem chỗ nào còn thiếu. Lưu nhìn bản vẽ rất lâu. “Trước đây, tên trưởng lò đặt ở chỗ mọi đường cùng dồn tới,” ông nói. “Nếu mọi đường cùng dồn tới chỗ trưởng lò, lời nào cũng phải qua trưởng lò.” “Không phải sao?” Dọi lấy một mẩu than, vẽ thêm đường từ cửa đông đến chỗ Tôn Thị Sên ngồi. “Tiếng ở đây đến tai Tôn Thị trước khi Thiết nghe.” Rạ vẽ đường từ khe tro sang người chẻ củi. Người lớn tuổi có búa đá vẽ thêm vị trí vòm phụ. Những đường than dần không còn dồn cả vào chỗ trưởng lò. Chúng tỏa sang những người nghe lò, giữ cửa, chẻ củi và xếp chum; mỗi người nhận một đường rồi nối sang người khác. Khi Hùng từ bến cũ đến, nắng đã lệch khỏi bãi. Chàng dừng trước phần vai lò sập, nhìn các thân cây chống cháy dở rồi nhìn Thanh. Tro bám từ tóc xuống tận gấu áo nàng. “Công Thị có bị thương không?” “Không.” Vai Hùng hạ xuống rất khẽ. Chàng nhìn vệt tro trên tóc và gấu áo nàng thêm một lần nữa, như chỉ đến lúc ấy mới tin câu trả lời. Một lúc sau chàng mới hỏi: “Còn vật thử?” “Có lẽ mất.” Hùng không hỏi tại sao nàng không cứu nó. Chàng ngồi xuống cạnh tấm ván đầy nét than. “Đây là đường lửa?” “Một phần. Còn là đường lời báo nguy phải truyền qua trước khi có người chịu nghe.” Hùng nhìn Lưu đang ghé tai vào thanh gỗ của Tôn Thị Sên. “Công Thị tìm được cách đọc dấu nhiệt chưa?” “Chưa đọc được dấu trên phiến đất.” Thanh chỉ những người quanh lò. “Nhưng ta đã biết vì sao không thể chỉ mang một mảnh nung về rồi đoán. Dấu nhiệt không do lửa một mình tạo ra. Nó do cách xếp, loại củi, đường gió và những bàn tay biết lúc nào phải ngừng.” Hùng nhặt mảnh gốm lấy từ chân cầu ra khỏi lớp vải. Dọi gõ vào hai đầu, rồi đưa cho Tôn Thị Sên. Bà lão áp nó lên mặt ván, gõ lại ba lần. “Mặt đỏ gặp lửa thẳng,” bà nói. “Lớp đen bị ngạt giữa chừng. Mặt xám nằm sau một vật khác.” Thanh hỏi: “Có thể làm lại không?” “Có thể thử. Không chắc giống.” “Cần ba phiến cũ không?” “Có thì tốt. Không có thì đất vẫn còn, người vẫn còn, lò vẫn còn một nửa.” Lưu nghe vậy, khép mắt. Lần đầu từ lúc vai lò sập, ông thở ra mà không giống người vừa mất tất cả. Đêm xuống, lửa trong lò chỉ còn ánh đỏ âm ỉ. Ba phiến đất chưa được lấy ra. Không ai biết chúng còn nguyên hay đã vỡ. Thanh để khoảng trống ấy trên thẻ, không viết “mất”, cũng không viết “còn”. Trước khi rời phường gốm, nàng nghe Dọi dạy Rạ phân biệt hai nhịp nóng bằng cách đưa bàn tay qua mép cửa đã nguội. Lưu ngồi bên Tôn Thị Sên, thanh gỗ áp vào tai. Những người khác tiếp tục thêm nét lên tấm ván, không ai xóa phần của ai. Phía sau, lò nứt thỉnh thoảng phát ra một tiếng co nhỏ. Dưới mái che mới dựng, giàn chống vẫn ôm lấy phần vai lò còn nguyên; trên tấm ván, những đường than đã tỏa về nhiều bàn tay, không còn dồn cả vào chỗ trưởng lò. Trên đường về, Hùng hỏi: “Nếu ba phiến còn nguyên, Công Thị sẽ mang chúng đi chứ?” “Không.” “Vì sao?” “Ta sẽ để chúng được mở ngay tại lò, trước những người biết chúng đã đi qua thứ lửa nào.” Hùng gật đầu. Hai người đi một quãng trong im lặng. Đi gần hết con đường, Hùng mới nói. Giọng chàng khàn vì mệt, áo còn vương mùi khói của bãi gốm: “Sáng mai chúng ta phải vào điện. Kinh đã cho gọi sau khi nhận tin về đường nước dưới kho.” Thanh nhìn lại vệt khói còn nằm trên bãi gốm. Hai cánh tay nàng nặng như vẫn còn giữ sức nóng của chiếc lò. “Công Tự sẽ đem điều gì vào chầu?” “Những điều đã thấy, cả những chỗ vẫn chưa biết.” Hùng khép tay quanh mảnh gốm. “Nếu trong điện chỉ hỏi một đáp án, ta cũng chưa có để dâng.” “Vậy càng phải nói cho rõ vì sao chưa có.”
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ