Chương 4: Vụ xử ở bến cũ

Khi Hùng và Thanh đến bến cũ, bà Lài đã đứng ngoài sợi dây phân chỗ từ trước. Bà không mang theo gì ngoài cây gậy đầu mòn. Những người của hai phường tránh bà như tránh một cọc mốc đã bị nhổ nhưng chưa ai dám vứt. Không ai xua đi, cũng không ai mời vào. Bến nằm ở chỗ con lạch gặp sông lớn. Ba bậc đá đầu đã chìm dưới phù sa, bậc thứ tư nứt đôi, cỏ mọc trong kẽ. Trên nền cao, người ta dựng một mái vải. Quan coi thủy lộ ngồi sau chiếc bàn thấp, hai viên lại đặt thẻ tre thành từng chồng bên cạnh. Phía trái là phường Thượng Lạch, gồm các nhà nhuộm và vườn ở đầu dòng. Phía phải là phường Hạ Bãi, nơi những ruộng rau, ruộng lúa và mấy xóm thuyền dựa vào phần nước còn lại. Người Thượng Lạch mang theo một dải vải hỏng. Màu chàm trên đó nhạt thành từng quầng vì nước lạnh tràn vào đúng lúc bể đang giữ nóng. Với họ, nước không chỉ là thứ đổ vào bể; nó phải đến đúng lượng, đúng lúc, khi lửa dưới đáy được nuôi đều. Nhiệt quá cao làm màu cháy xỉn, quá thấp khiến màu không bám. Cả một mẻ vải sống hay chết trong khoảng rất hẹp giữa hai phía ấy. Hùng dừng trước bàn quan. “Thưa quan, tôi đến theo lời mời để dự việc. Tôi không có chức xét xử.” Quan coi thủy lộ tên Phác, người thấp, vai vuông, mắt thâm vì thiếu ngủ. Ông gật đầu. “Ta mời Công Tự vì đường nước dưới kho lương có thể nối với lạch này. Công Tự cứ ngồi nghe. Khi cần, ta sẽ hỏi.” Thanh chắp tay. “Tôi xin ghi lời của những người làm nghề nếu họ đồng ý.” “Công Thị được ghi, nhưng thẻ của quan mới là án.” “Tôi hiểu.” Hai người ngồi sang bên. Từ chỗ ấy, Hùng vẫn nhìn thấy bà Lài ngoài dây. Bà chống gậy, mắt hướng xuống những bậc đá chìm, như vụ xử trước mặt không quan trọng bằng tiếng nước đang đi dưới chân mọi người. Quan Phác gõ thanh lệnh lên bàn. Người đại diện Thượng Lạch bước ra trước. Ông tên Độ, chính là người áo nâu đã đến lều bà Lài tối qua. Độ trình ba thẻ tre có dấu của quan giữ phường và một bản đo bờ lạch lập từ sáu năm trước. “Cửa chia nước nằm trên đất phường chúng tôi,” ông nói. “Người Thượng Lạch đã thay cọc, nạo bùn và góp gỗ sửa cửa suốt ba mùa. Đêm mười hai, người Hạ Bãi phá chốt, khiến nước tràn vào các bể nhuộm sai giờ. Chúng tôi xin buộc họ đền vải, trả gỗ và cấm đụng cửa.” Viên lại đọc điều luật: vật dẫn nước nằm trong ranh phường nào thì phường ấy chịu trách nhiệm giữ; người ngoài tự ý phá phải bồi hoàn. Tiếng tán đồng nổi lên phía trái. Đại diện Hạ Bãi là một phụ nữ tên Hòe, nước da sạm và hai bàn tay nứt đất. Bà không có bản đo. Bà đặt trước quan một bó rễ lúa khô, một nắm đất xám và bốn chiếc gáo cũ. “Chúng tôi không nhận phá cửa,” bà nói. “Nhưng nếu có người cạy chốt thì cũng vì ba lượt nước đã bị giữ lại. Giếng cạn, rễ lúa khô trắng, đất ruộng không còn ẩm. Cửa nằm trên đất họ, nhưng nước không sinh ra từ đất họ.” Quan Phác hỏi: “Phường Hạ Bãi có thẻ chia nước không?” “Không.” “Có dấu quan xác nhận lượt nước?” “Không.” “Vậy căn cứ vào đâu nói bị giữ ba lượt?” Hòe giơ một chiếc gáo. “Mỗi đêm chúng tôi đặt gáo ở bốn miệng rãnh. Trước đây, gà gáy lần hai thì gáo đầy. Ba đêm qua, đáy gáo chỉ dính bùn.” Một viên lại bật cười rất khẽ. Hòe nghe thấy, nhưng bà chỉ đặt chiếc gáo xuống. “Luật không ghi lượt nước bằng tiếng gà,” quan Phác nói. “Ruộng cũng không chờ thẻ của quan mới héo.” Phía Hạ Bãi ồn lên. Thanh nhìn viên lại đang chép. Trên thẻ, người ấy chỉ ghi: không có thẻ xác nhận; lấy tiếng gà làm giờ. Nàng nghiêng sang Hùng. “Viên lại bỏ mất bốn chiếc gáo.” “Và bó rễ,” Hùng nói. Quan Phác gọi người bị tố phá cửa. Một Công Tự gầy bước ra, cổ tay còn vết dây trói. Chàng tên Sỏi, làm nghề đưa thuyền. Người Thượng Lạch nói có người thấy chàng ở gần cửa nước lúc nửa đêm. Sỏi thừa nhận đã đi qua nhưng phủ nhận cạy chốt. Sỏi siết hai bàn tay đang bị trói, giọng khàn đi. “Tôi nghe nước dưới đá nên cúi xuống xem. Tôi còn chưa chạm vào cửa thì họ đã bắt.” “Nước dưới đá nào?” quan hỏi. Sỏi chỉ xuống bậc bến. “Dưới nền này. Cả bờ lạch có đường nước chìm.” Độ cười lớn. “Nếu có, sao bản đo không ghi?” “Bản đo mới có sáu năm. Đường nước đã có từ trước khi Cội tự của tôi còn kéo thuyền.” Quan Phác nhìn bản da. Trên đó, con lạch được vẽ bằng một nét xanh, từ đầu dòng qua cửa chia rồi tỏa thành năm rãnh. Không có đường nào dưới đất. Ông hỏi Hùng: “Công Tự đã gặp đường nước chìm dưới kho. Theo Công Tự, lời này có đáng xét không?” Mọi ánh mắt đổ về phía Hùng. Chàng không đứng lên ngay. “Tôi chỉ biết dưới kho có một đường dẫn từng bị bản đồ bỏ sót,” chàng nói. “Điều đó không chứng minh dưới bến cũng có. Nhưng nó đủ để chúng ta chưa nên coi phần không được vẽ là không tồn tại.” Độ lập tức nói: “Công Tự bênh họ vì đã nghe Tôn Thị Lài.” “Ta chưa nói ai đúng.” “Vậy xin quan xử theo luật đã ghi.” Quan Phác đặt tay lên thanh lệnh. Nếu án ban ngay, Sỏi sẽ phải bồi gỗ và bị phạt vì xâm cửa. Thượng Lạch sẽ được quyền khóa cửa, chỉ mở theo thẻ của phường. Mọi điều đều khớp với bản đo và điều luật. Ngoài dây, bà Lài cúi xuống áp đầu gậy vào bậc đá. Thanh nhìn bà, rồi nhìn bó rễ lúa. Rễ non không chết vì một buổi nắng. Đất phải mất ẩm từ trước khi mặt ruộng nứt. “Thưa quan,” nàng nói, “xin hỏi một điều trước khi định án.” Quan Phác cau mày. “Công Thị muốn hỏi ai?” “Những người canh gáo.” “Họ không có thẻ.” “Chính vì không có thẻ nên lời của họ chưa nằm trong chồng án này.” Quan im lặng. Sau cùng, ông cho gọi bốn người Hạ Bãi. Ba phụ nữ và một ông già bước ra. Họ không thống nhất giờ bằng tên canh. Người nói lúc gà gáy lần hai, người nói khi sao gần ngọn tre, người nói sau lúc thuyền cá đầu tiên qua bến. Nhưng cả bốn đều kể cùng một việc: nước không chảy ào trên mặt rãnh. Nó thấm từ vách đất, đầy gáo rất chậm và giữ đáy rãnh ẩm đến sáng. “Lượt nước ấy chưa từng đi qua cửa lớn?” Thanh hỏi. “Không,” người phụ nữ lớn tuổi nhất đáp. “Cửa lớn mở ban ngày cho phường trên. Đêm nước rút xuống đường dưới, đến chúng tôi.” “Ai điều khiển đường dưới?” Bốn người cùng quay nhìn bà Lài. Quan Phác thấy vậy nhưng không gọi bà. Ông hỏi viên lại xem sổ cũ có ghi nước đêm hay không. Ba cuộn thẻ được tháo ra. Chỉ có lượng gỗ sửa cửa, số ngày nạo bùn và lượt mở cửa ban ngày. Độ chắp tay. “Không có trong sổ, xin quan đừng để lời truyền làm loạn phép.” Hòe đáp: “Nếu chỉ thứ trong sổ mới được sống, ruộng chúng tôi chết cũng đúng phép sao?” Hai phía lại dậy tiếng. Quan Phác đập thanh lệnh xuống bàn. Những lời buộc tội dồn vào nhau như hai dòng nước bị ép chung một miệng rãnh. Quan Phác càng muốn khép vụ việc bằng một phán quyết nhanh, điều nằm khuất dưới bến càng dễ bị lấp thêm. Một tiếng “án” có thể làm đám đông im trước mặt ông, nhưng cũng có thể khóa luôn con đường đang âm thầm nuôi ruộng phía dưới. “Im!” Ông nhìn mặt trời. Triều đang xuống. Nếu hoãn, ông phải chịu trách nhiệm vì để cửa tranh chấp chưa khóa thêm một đêm. Nếu khóa theo luật, Hạ Bãi có thể mất nốt phần ẩm còn lại. Từ ngoài dây phân xử, tiếng người hai phường đã bắt đầu dội vào nhau. Quan Phác day ngón tay lên thanh lệnh. Ông biết chỉ cần một người ném bùn trước, đám đông sẽ quên cả nước lẫn luật. “Công Tự,” ông nói, “Công Tự đề nghị chưa coi phần không được vẽ là không có. Vậy có cách nào kiểm chứng trước khi trời tối?” Hùng nhìn bà Lài ngoài dây. “Có thể hỏi người từng giữ lệ gọi nước.” Độ phản đối ngay. “Ba năm trước, người giữ phường đã gạt Tôn Thị Lài khỏi việc gọi nước vì Tôn Thị không biết chữ trên thẻ.” “Thẻ ấy tôi chưa thấy. Nhưng người Hạ Bãi sống nhờ dòng nước dưới chân họ. Muốn biết lời nào đúng, xin cứ mở đường nước ra mà thử,” Thanh nói. “Công Thị lấy gì bảo đảm?” “Tôi không dám bảo đảm. Nhưng chưa hỏi, chưa thử mà đã gạt đi thì chồng án này vẫn còn thiếu.” Quan Phác day trán. Rồi ông bảo viên lại tháo dây ở một đoạn. “Gọi Tôn Thị Lài vào. Chỉ hỏi việc dẫn nước, không hỏi quyền sở hữu.” Bà Lài bước qua dây mà không nhìn ai. Khi đến trước bàn, bà không quỳ, chỉ chống gậy chắp tay. “Tôn Thị nói có đường nước chìm?” quan hỏi. “Có.” “Cửa ở đâu?” “Không có một cửa.” Độ cười nhạt. “Lại lời không thể đo.” Bà Lài quay sang ông ta. “Nước chìm không đi bằng cửa lớn. Nó đi qua ba giếng thở và một lớp sỏi dưới bến. Ban ngày mở dòng mặt. Chạng vạng đóng cửa cao, tháo bùn ở cửa thấp. Khi mặt lạch hạ một gang, nước tự ngấm vào lớp sỏi. Đến nửa đêm mới ra Hạ Bãi.” Quan Phác hỏi: “Ba năm nay Tôn Thị không giữ cửa. Ai làm việc ấy?” “Không ai.” “Vậy sao trước năm nay Hạ Bãi vẫn có nước?” “Vì đường dưới chưa bị bịt hẳn.” “Bịt bởi ai?” Bà Lài chỉ cây cầu mới gia cố ở đầu bến. Chân cầu được trét kín bằng đất sét vàng để chống lún. “Mùa trước họ đắp thêm chân cầu. Nước vẫn còn lách qua. Tháng này phường Thượng Lạch nện đất lần nữa, lấp giếng thở cuối cùng. Dòng dưới dội ngược, nước mặt dâng vào phường nhuộm, nước ngầm không xuống Hạ Bãi.” Hùng nhớ bể chàm bị tràn hôm qua. Cùng một chỗ bịt đã tạo ra hai tai họa trái nhau: nơi trên thừa nước, nơi dưới khô hạn. Độ đỏ mặt. “Chúng tôi gia cố cầu theo lệnh quan. Đất sét do kho công cấp.” Quan Phác quay sang viên lại. Lệnh sửa cầu có đủ dấu. Không ai ghi bên dưới chân cầu có giếng thở. “Có thể thử ngay không?” ông hỏi. Bà Lài lắc đầu. “Mở giếng thở thì được. Muốn biết nước có xuống Hạ Bãi phải chờ. Dòng dưới không chạy như dòng mặt.” “Bao lâu?” “Đến khi trăng vượt ngọn sung.” Độ nói: “Một vụ xử không thể đợi lời trăng.” Hòe siết bó rễ trong tay. “Ruộng chúng tôi đã đợi ba đêm.” Quan Phác nhìn Hùng. Chàng hiểu ông không xin một lời giải. Ông đang tìm người cùng gánh cái giá của sự trì hoãn. Hùng đứng dậy. “Thưa quan, tôi không thể xin quan bỏ luật. Tôi xin quan chưa đóng vụ xử khi chứng cứ có thể kiểm tra trong một đêm. Tôi sẽ ở cùng người của hai phường tại đường nước. Công Thị ghi giờ, vị trí và lời chứng. Sáng mai, quan có thể xét cả điều kiểm tra được.” “Nếu đêm nay họ đánh nhau?” “Xin quan cử người giữ trật tự. Tôi không có quyền sai lính của quan.” Quan Phác nhìn thẳng vào chàng, rồi bất ngờ mỉm cười mệt mỏi. “Ít nhất Công Tự nhớ mình không có quyền gì.” Ông ra lệnh tạm niêm cửa lớn, không cho bên nào tự ý mở. Mỗi phường cử sáu người chứng kiến. Hai lính thủy lộ giữ chốt. Vụ xử hoãn đến sáng. Độ không hài lòng. Hòe cũng không. Một bên sợ mất quyền đã nằm trong tay, bên kia sợ một đêm thử thất bại sẽ biến ruộng héo thành bằng chứng chống lại chính mình. Thanh nói nhỏ với Hùng khi mọi người rời mái vải: “Không ai cảm ơn Công Tự.” “Vậy có lẽ ta chưa đứng hẳn về bên nào.” “Hoặc cả hai bên đều nghĩ Công Tự đang làm họ chậm thêm một ngày.” “Công Thị có nghĩ thế không?” Thanh nhìn mặt lạch lặng như một dải chì. “Tôi nghĩ có những thứ chỉ hiện ra khi người ta chịu đợi.” • • • Giếng thở cuối cùng nằm dưới một phiến kê chân cầu. Người Thượng Lạch phải tháo ba hàng đất sét chính họ đã nện. Người Hạ Bãi đứng nhìn, lúc đầu hả hê, nhưng bà Lài bắt họ xuống xúc bùn khỏi rãnh dưới. “Nước của ai thì bùn của người ấy,” bà nói. “Không ai được đứng khô mà đòi người khác moi.” Đến chiều muộn, họ mở được một lỗ nhỏ. Không có nước phun lên. Chỉ một luồng khí lạnh thoát ra, mang mùi sắt và rễ mục. Độ khoanh tay. “Chỉ là hang chuột.” Bà Lài áp gậy xuống phiến đá. “Đợi.” Họ đợi. Người Thượng Lạch mang tới một bếp than nhỏ để giữ ấm nồi nước thử màu. Họ gạt than từng chút, che gió và thêm củi đúng lúc màu nước bắt đầu đổi. Người Hạ Bãi ngồi đối diện, thay nhau canh bốn chiếc gáo. Một bên nhìn mặt nước trong nồi, một bên chờ hơi ẩm dâng từ đất. Đêm ấy, hai phường cùng nhận ra điều ban ngày họ không chịu nghe: nước không chỉ đi qua cánh cửa lớn mà mắt người nhìn thấy. Có dòng phải men xuống lớp sỏi, lặng lẽ đi qua những khe thấp rồi mới trở lại nuôi rễ lúa. Mặt trời khuất sau mái thành. Muỗi bay dày trên lạch. Người hai phường ngồi cách nhau một khoảng, mỗi bên giữ đồ ăn của mình. Hùng đi kiểm tra chốt cùng lính thủy lộ. Thanh đặt bốn thẻ thời gian: khi tắt nắng, khi thuyền cá cuối cập bến, khi gà lên chuồng và khi trăng chạm ngọn sung. Nàng không ép những dấu giờ khác nhau thành một tên chung. Ở Hạ Bãi, bốn chiếc gáo cũ được đặt vào miệng rãnh. Đáy gáo khô. Qua một canh, đất sét quanh giếng thở bắt đầu sẫm màu. Không ai nói. Bà Lài lấy đầu gậy gạt nhẹ một hạt cát. Nó trượt vào khe rồi biến mất. Độ cúi xuống. Lần đầu tiên ông không đứng thẳng khi nhìn nước. Đến lúc trăng vừa vượt tán sung, một đứa trẻ từ Hạ Bãi chạy lên, thở không thành tiếng. “Gáo... gáo có nước.” Mọi người kéo xuống theo nó. Dòng rãnh vẫn không có tiếng chảy. Nhưng đáy chiếc gáo thứ nhất đã phủ một lớp nước mỏng. Chiếc thứ hai còn khô. Bà Lài bảo không được chạm vào. Hùng quỳ xuống, đặt đầu ngón tay lên vách đất. Hơi ẩm đang bò ra từng chút, lạnh và bền. Nó không tràn qua mặt đất như nước ở phường nhuộm. Nó thấm từ dưới lên, gom trong những lỗ nhỏ không ai vẽ trên bản đồ. Một lúc sau, chiếc gáo thứ hai ướt. Rồi chiếc thứ ba. Chiếc thứ tư, nằm cuối dòng, mãi gần sáng mới có nước. Hòe ngồi bệt xuống bờ, dùng hai bàn tay che mặt. Không ai biết bà khóc vì ruộng còn cơ hội sống hay vì phải mất ba mùa tranh cãi mới có người chịu nhìn đáy một chiếc gáo. Thanh ngồi xuống cạnh Hòe nhưng không chạm vào bà. Nàng đặt bó rễ lúa đã khô sang một bên, nhường chỗ cho chiếc gáo vừa có nước. Hòe hạ một bàn tay, nhìn nàng, môi run lên mà không nói được lời cảm ơn. Hùng quay về phía lạch. Nước chỉ phủ một lớp mỏng dưới đáy gáo, vậy mà sau lưng chàng, tiếng cãi đã lặng. Chàng chợt thấy một phán quyết chậm một đêm vẫn nhẹ hơn ba mùa ruộng chết mà không ai chịu hỏi vì sao. Độ bước đến bên bà Lài. Ông nhìn chiếc gáo vừa có nước, giọng không còn gay gắt như trước. “Nếu đường dưới đã có từ trước, vì sao lệ này không còn trong sổ?” Bà đáp: “Đã từng được ghi.” “Ở đâu?” Bà chống gậy trở lại bến cũ. Dưới bậc đá thứ tư, nơi phù sa đóng dày, bà bảo mọi người đào ngang chứ không đào xuống. Sau một lúc, lưỡi cuốc chạm gỗ. Họ kéo ra một cọc buộc thuyền đã mục quá nửa. Mặt trên trơn nhẵn, nhưng mặt nằm ép vào bờ còn những hàng dấu khắc: một vạch dài ở trên, một chuỗi chấm dưới thấp, giữa hai hàng là dấu móc cong quay đầu. Hùng nhận ra nhịp dấu trên chiếc muỗng giữ giống. Không giống từng nét, nhưng cùng cách đặt nghĩa vào vị trí. Bà Lài nói: “Dòng trên là nước mặt. Dòng dưới là nước chìm. Móc quay đầu nhắc đóng cửa cao để nước trở xuống lớp sỏi. Cọc này từng nằm trước bàn xử. Mỗi lần chia nước, người giữ bến đặt tay lên nó mà nhắc: trên dùng trước, dưới nhận sau; người trước không được lấy hết phần của người sau.” Quan Phác được đánh thức và gọi xuống bến khi trời còn mờ. Ông xem cọc gỗ rất lâu. Một viên lại già đi theo ông chợt nhớ trong kho án có nhóm thẻ mang tên “nước sau bến”, nhưng nhiều năm không ai hiểu nên đã xếp vào mục sửa thuyền. Những thẻ ấy được mang tới. Chữ Khoa Đẩu trên thẻ mới hơn dấu cọc, nội dung chỉ còn các khoản góp sỏi, vét bùn và thay gáo. Không thẻ nào chép trọn quy tắc, nhưng khi đặt cạnh cọc, lời bà Lài và kết quả bốn chiếc gáo, những phần rời bắt đầu giữ được nhau. Quan Phác mở lại vụ xử ngay trên bậc đá. Ông không tuyên người Thượng Lạch chiếm nước có chủ ý. Họ sửa cầu theo lệnh và không biết đã bịt giếng thở. Ông cũng không kết Sỏi tội phá cửa vì lời chứng chỉ cho thấy chàng có mặt gần đó, nhưng không ai thấy hành động cạy chốt. Hai phường phải cùng sửa đường thấm; lượt nước mặt do Thượng Lạch giữ ban ngày, nhưng trước chạng vạng phải mở giếng thở và hạ mực lạch đúng dấu cọc. Mỗi lần làm có người của cả hai bên chứng kiến cho đến khi lệ được ghi lại. Viên lính tháo dây ở cổ tay Sỏi. Chàng xoa vết hằn đỏ, nhìn sang Độ rồi lại cúi xuống. Không một lời trách móc, Sỏi bước tới nhặt chiếc xẻng xúc bùn. Hòe lặng lẽ nhường cho chàng chỗ đứng bên rãnh. Độ hỏi: “Vậy cửa vẫn thuộc phường chúng tôi chứ?” Quan Phác đáp: “Cửa thuộc phần đất phường Thượng Lạch. Nước không vì thế mà thuộc riêng phường Thượng Lạch.” Hòe hỏi: “Nếu họ lại bịt đường dưới?” “Phường Hạ Bãi được quyền báo quan, không được tự phá cửa. Nhưng từ nay phải đem theo gáo, dấu ẩm và người chứng, không chỉ mang lời giận dữ.” Án không làm ai thắng trọn. Quan Phác ghi rõ số vải hỏng phát sinh từ việc gia cố cầu theo lệnh công, rồi giao viên lại lập thẻ bồi hoàn để trình kho công xét cấp. Hạ Bãi phải góp công nạo bùn, không được coi đường nước chìm là việc người khác phải nuôi giữ thay mình. Quan Phác quay sang Hùng. “Công Tự xin trì hoãn một đêm. Một đêm ấy cứu được vụ án. Nhưng không phải vụ nào cũng có trăng, có gáo và có người còn nhớ.” “Vậy phải ghi cả cách chúng ta đã thử ra nó,” Hùng nói. “Chỉ chép một cái tên, người sau lại phải cãi từ đầu.” Thanh đặt trước viên lại bốn thẻ thời gian, bản vẽ vị trí giếng thở và nguyên lời của những người canh gáo. “Nếu chỉ viết ‘chia nước đêm’, người sau sẽ lại không biết phải nhìn vào đâu.” Viên lại già nhận thẻ, lần này không cười. • • • Khi đám đông tan, bà Lài ngồi xuống bậc đá thứ tư. Bà rửa bùn khỏi đầu gậy. Quan Phác bước đến, đặt trước bà một thẻ gỗ chưa khắc. “Tôn Thị có chịu chỉ lại lệ gọi nước cho hai người học không?” Bà Lài không nhận ngay. “Hai người do ai chọn?” “Mỗi phường một người.” “Nếu họ chỉ muốn học dấu mà không chịu moi bùn?” “Tôn Thị cứ đuổi.” “Nếu người giữ phường đòi đổi họ?” Quan Phác thở dài. “Tôn Thị báo ta trước khi lấy gậy đánh người.” Bà Lài bật cười, tiếng cười khô mà sáng. Bà cầm thẻ gỗ. Hùng đứng xa nhìn. Chàng hiểu sự trì hoãn không phải lúc nào cũng là sợ quyết định. Có khi đó là cách giữ cho một điều nằm sâu đủ thời gian dâng lên, trước khi lời phán đóng kín mọi khe còn lại. Phán quyết của quan Phác không thể xóa mối bất hòa chỉ trong một buổi. Nó chỉ mở lại những khe đã bị nện kín, để lời của hai phía và dòng nước dưới bến có chỗ đi qua. Từ đó, điều nằm sâu phải được nhận biết bằng dấu ẩm, rễ lúa, chiếc gáo và người chứng, trước khi một phán quyết khác lấp nó đi lần nữa. Thanh đang xem một mảnh đất sét vừa được gỡ khỏi chân cầu. Nó không giống đất sét thường. Một mặt đã đỏ sẫm và cứng, mặt kia xám, giữa lớp đất có một đường đen mảnh. “Mảnh này từng qua lửa,” nàng nói. Bà Lài nhìn rồi đáp: “Không phải gạch cầu. Là mảnh bị loại từ lò gốm phía nam. Người sửa cầu trộn vào đất để chân bờ chắc hơn.” Thanh gõ nhẹ. Mảnh đất phát ra hai âm khác nhau ở hai đầu. “Vì sao một mảnh nung lại có ba lớp màu?” “Hỏi người giữ lò.” Một người chạy tin từ phía nam thành vừa đến bến, mặt bám tro. “Thưa Công Thị, lò của phường gốm đã nứt từ đêm qua. Họ vẫn không chịu dừng mẻ nung. Tôn Thị Sên nghe tin Công Thị đang ở bến, nên bảo tôi tới mời.” Thanh khép bàn tay quanh mảnh gốm. Hơi lạnh của nước ngầm vẫn còn trong lòng đất, nhưng trên mặt mảnh vỡ là dấu của một sức nóng đã đi qua không đều. Nàng nhìn Hùng. “Công Tự ở lại cùng quan coi thủy lộ?” “Ta sẽ giúp đối chiếu đường nước với bản kho. Công Thị đến lò trước đi.” Thanh gật đầu, bọc mảnh gốm trong vải rồi bước lên bờ. Sau lưng nàng, nước dưới bến vẫn dâng rất chậm vào chiếc gáo cuối dòng. Không ai nghe thấy nó chảy. Nhưng từ sáng ấy, không còn ai có thể nói rằng điều im lặng dưới đất là điều không tồn tại.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ