Hùng đến nhà giữ giống khi nắng đã hong khô vạt áo ướt, nhưng mùi bùn trong kho lương vẫn còn bám theo chàng.
Ngôi nhà nằm ở phía tây thành, thấp và dài, tường dày hơn nhà ở, mái lợp hai lớp ngói. Trước mỗi cửa đều có máng cát để người bước vào chùi sạch giày. Không có lính canh đứng phô ra ngoài. Chỉ có hai người coi cửa kiểm thẻ, hỏi tên và ghi lúc người ra vào bằng những nét Khoa Đẩu ngắn trên thanh tre.
Viên đội trưởng theo Hùng dừng lại trước bậc.
“Bẩm Công Tự, bề tôi chờ ở đây.”
Hùng gật đầu. Chàng tháo áo ngoài, phủi đất ở gấu quần rồi bước qua máng cát. Người coi cửa dẫn chàng vào gian giữa.
Mùi trong nhà không giống mùi lương thực. Nó khô, hơi cay, pha giữa tro bếp, lá thuốc và những lớp vỏ hạt đã ngủ qua nhiều mùa.
Công Thị Thanh đang quỳ trước hai hòm gỗ đặt cách nhau một sải tay.
Nàng mặc áo nâu xanh, tay áo buộc gọn đến cổ tay. Trên chiếu trước mặt là hai hàng bát đất, mỗi bát lót một lớp vải ẩm và chứa mười hạt lúa. Hàng bên trái đã nhú những mầm trắng cong như móng chim. Hàng bên phải chỉ có một hạt vừa hé mầm; những hạt còn lại sẫm màu, trương nước nhưng im lìm.
Thanh không đứng dậy ngay. Nàng đánh dấu bát cuối cùng, rửa đầu ngón tay trong chậu rồi mới quay sang.
“Công Tự đến nhanh hơn tôi nghĩ.”
“Ta chạy từ kho lương sang.”
Ánh mắt Thanh dừng ở vệt bùn trên giày chàng.
“Tôi nhìn ra.”
Hùng ngồi xuống mép chiếu.
“Hai hòm này có chuyện gì?”
Thanh đẩy hai thẻ tre về phía chàng. Cùng một tên giống. Cùng nơi nhập. Cùng ngày niêm. Dấu của người nhận và người kiểm đều đủ.
“Một hòm nảy tám trong mười,” nàng nói. “Hòm kia chỉ có một hạt hé mầm. Ba hạt đã xám ruột, những hạt còn lại vẫn chắc nhưng không chịu thức.”
“Ẩm?”
“Độ ẩm gần nhau.”
“Sâu?”
“Không có dấu cắn.”
“Bị đổi?”
“Đó là điều mọi người đang muốn kết luận.”
Giọng nàng bình thản, nhưng từ gian bên cạnh vọng sang những tiếng tranh cãi bị nén thấp. Hùng nhận ra có người đang chờ một cái tên để quy lỗi.
“Còn Công Thị?”
“Tôi muốn biết hạt đã trải qua điều gì trước khi vào hòm.”
Một người đàn bà tóc hoa râm từ gian bên bước vào. Bà không cúi thấp, chỉ chắp tay đúng lễ.
“Thưa Công Tự, tôi là Mộc, giữ giống ở đây. Hai hòm do hai nhà giữ giống của hai xóm giao tới. Một nhà giữ dòng ven sông, nhà kia giữ dòng chân gò. Trong sổ, cả hai cùng được ghi dưới một tên. Nếu phải tra, xin tra cả người nhận. Đừng đổ ngay cho những nhà đã giữ giống.”
Hùng nhìn Thanh.
“Công Thị gọi ta tới để tra người sao?”
“Không. Tôi gọi Công Tự đến vì hạt trong kho lương vừa gặp nước, còn mẫu hạt ở đây không chịu nảy dù được lấy từ một hòm vẫn khô. Hai chuyện có thể không liên quan, nhưng đều cho thấy tên trên thẻ chưa kể hết điều vật đã trải qua.”
Mộc cau mày.
“Hạt không phải vật để hai vị đem ra suy luận. Nó là mùa sau của người khác.”
Thanh không phản bác. Nàng nhặt một hạt đã ngâm quá lâu, dùng móng tay tách vỏ. Phần ruột bên trong xám đục. Nàng lại tách một hạt khác. Ruột hạt còn chắc, mầm vẫn nguyên nhưng chưa chịu nhú.
“Vậy xin Tôn Thị Mộc chỉ cho chúng tôi nhìn chúng như một mùa sau.”
“Nhìn bằng cách nào?”
“Cho tôi theo người của Tôn Thị từ lúc chọn hạt đến khi cất hòm. Tôi sẽ làm việc họ làm. Khi nào Tôn Thị thấy tôi chỉ còn biết hỏi mà không biết làm, Tôn Thị có thể đuổi tôi ra.”
Mộc nhìn đôi tay nàng. Bàn tay ấy sạch, ngón thon, có vết mực ở cạnh móng nhưng chưa có vết chai của người sàng thóc.
“Một ngày không đủ.”
“Tôi không xin một ngày.”
Hùng định nói chuyến khảo sát của nàng trong thành còn nhiều việc, nhưng Thanh đã nhìn sang. Ánh mắt ấy khiến chàng hiểu nàng không cần ai thay mình rút bớt lời vừa nhận.
Mộc hỏi:
“Công Thị chịu ở đến hết đợt chọn giống?”
“Nếu cần.”
“Mười hai ngày.”
“Được.”
Người đàn bà quay sang Hùng.
“Còn Công Tự?”
Hùng nhìn những mầm trắng ở hàng bát bên trái.
“Tôi không biết giữ giống. Tôi chỉ xin được xem hai hòm và nghe người đã mang chúng tới. Việc còn lại, Công Thị đã nhận rồi.”
Mộc gật đầu, vẻ mặt dịu đi rất ít.
• • •
Ngày đầu tiên, Thanh làm rách một chiếc nia tre.
Nàng tưởng sàng hạt chỉ cần lắc đều. Những hạt chắc dồn mạnh vào một góc. Mộc vừa đưa tay ngăn thì nan nia đã cũ bật gãy. Tiếng tre khô khốc khiến mấy cô gái làm cùng im bặt.
Thanh đặt chiếc nia xuống, nhìn số hạt vừa rơi qua khe tre.
“Tôi sẽ đền.”
“Nia mới không trả lại được số hạt vừa rơi xuống đất,” Mộc nói.
Thanh quỳ nhặt từng hạt. Hùng đứng ngoài cửa nhìn một lúc rồi cũng ngồi xuống nhặt. Mộc không cản, nhưng đưa cho chàng chiếc bát riêng.
“Hạt dính đất để riêng. Không được trộn lại.”
“Chỉ dính một ít bụi.”
“Một ít bụi có thể mang nấm vào cả hòm.”
Hùng làm theo.
Đến trưa, họ tìm được hai gia đình đã giao giống. Mỗi nhà giữ giống cho một xóm. Nhà thứ nhất giữ dòng ven sông, phơi hạt trên giàn tre cao để đón gió từ mặt nước. Nhà thứ hai giữ dòng chân gò, phơi trên sân đất nện vì giàn bị gãy sau một trận mưa. Cả hai đều chờ hạt khô, cắn thử thấy giòn rồi mới đóng túi.
Sổ nhận chỉ ghi một chữ: khô.
Thanh hỏi người nhà thứ hai:
“Sau trận mưa, Công Thị phơi lại số hạt này qua bao nhiêu nắng?”
“Ba nắng.”
Mộc hỏi tiếp:
“Nắng đầu có gió bấc hay gió sông?”
Người đàn bà đáp ngay:
“Gió bấc lúc sáng, trưa đổi gió sông.”
Hùng nhận ra câu hỏi của Thanh đo thời gian; câu hỏi của Mộc đo cách hạt đã khô. Trên thẻ tre, cả hai đều bị ép thành một chữ.
Nhưng ba nắng chưa giải thích được vì sao mẫu hạt từ một hòm không chịu nảy.
Trước khi nắng xế, Hùng rời nhà giữ giống để trở lại khu bờ bắc như đã hẹn với lão Cẩn. Những ngày sau, chàng đi lại giữa các miệng nước cũ và nhà giữ giống, nghe Thanh báo từng điều nàng tìm được.
Ngày thứ ba, Thanh học ngửi hạt. Hạt mới có mùi cỏ khô. Hạt từng ngậm nước có mùi ngai ngái, rất nhẹ, chỉ hiện ra khi người ta úp hai bàn tay quanh một nắm rồi hà hơi. Nàng ngửi đến đau đầu, vẫn không phân biệt được. Một bé gái tên Miên làm việc bên cạnh chỉ cần đưa lên mũi là tách đúng cả năm mẫu.
“Ấu Thị Miên học ở đâu?” Thanh hỏi.
“Cơ tôi dạy.”
“Ấu Thị Miên còn nhớ Cơ đã dạy cách phân biệt thế nào không?”
Miên nghĩ rất lâu.
“Cơ bảo hạt nào ngủ yên thì mùi nằm trong vỏ. Hạt nào từng thức rồi bị ép ngủ lại thì mùi chạy ra tay.”
Không có câu ấy trong sổ.
Thanh xin Miên nói lại. Nàng ghi nguyên lời lên thẻ nhỏ, không sửa thành từ ngữ của người chép.
Mộc nhìn thấy nhưng không nói gì.
Ngày thứ năm, họ phát hiện ở đáy hòm có mẫu hạt không nảy một lớp bụi mỏng màu bạc. Hùng nghĩ đó là tro bếp chống mọt, nhưng trong lớp bụi không có những mảnh than nhỏ thường lẫn với tro dùng trong nhà giữ giống.
Mộc lấy một nhúm đặt lên mảnh gốm rồi nhỏ vào đó một giọt nước. Lớp bụi vón lại và tỏa hơi ấm rất nhẹ.
“Tro vỏ sò.”
Người nhận kho thừa nhận đã rắc loại tro ấy vào cả hai hòm sau khi nhập giống. Ông lấy tro từ cùng một vò, dùng cùng một muỗng và rắc theo cùng một lệ. Khi họ kiểm tra hòm nảy tốt, dưới đáy cũng có lớp bụi bạc như vậy.
Tro có thể chống mọt, nhưng không giải thích được vì sao hai hòm cho kết quả khác nhau.
Ngày thứ bảy, Hùng không ghé nhà giữ giống. Chàng theo lão Cẩn và người giữ bản đồ đi xa hơn dọc các miệng nước cũ. Thanh không hỏi. Nàng tiếp tục quay hạt dưới nắng, học cách dùng mu bàn tay cảm hơi nóng trong nia.
Đêm ấy trời trở lạnh. Mộc gọi mọi người trở dậy chuyển hạt vào gian trong. Thanh bê một hòm nhỏ, bước hụt ở bậc cửa. Miên đỡ được nắp, còn cạnh hòm va vào đầu gối Thanh. Nàng ngồi thụp xuống, mặt trắng đi.
“Công Thị nghỉ đi,” Mộc nói.
Thanh xoa đầu gối.
“Hạt có đổ không?”
“Không.”
“Vậy tôi làm tiếp.”
Mộc không khuyên lần nữa. Bà đưa nàng một dải vải quấn gối rồi chuyển cho nàng việc nhẹ hơn: buộc các túi mẫu.
Đến lúc ấy Thanh mới nhận ra mỗi nút buộc khác nhau. Có nút xiết đôi, nút vòng ngược, nút để thừa một đầu ngắn hoặc hai đầu bằng nhau.
“Đây là dấu của từng nhà?”
“Một phần.”
“Phần còn lại?”
“Cách hạt phải được thức dậy.”
Mộc lấy hai túi cùng tên giống. Bà nâng chiếc túi buộc nút vòng ngược.
“Dòng chân gò dùng nút này. Hạt phải được hong gió hai đêm trước khi ngâm.”
Bà đặt tay lên chiếc túi buộc nút xiết đôi.
“Dòng ven sông dùng nút này. Hạt được ngâm ngay, nhưng nước đầu phải lạnh.”
Thanh nhìn các nút dây rồi nhìn thẻ tre gắn trên hai hòm. Khi nhập kho, người nhận đã tháo túi để đổ hạt vào hòm lớn. Những nút buộc bị vứt đi. Trên thẻ chỉ còn tên giống.
“Hai hòm không cùng một dòng,” nàng nói.
“Chúng cùng họ, cùng dáng hạt, cùng tên gọi,” Mộc đáp. “Nhưng một dòng quen đất ven sông, một dòng quen chân gò. Người giữ giống biết chúng khác nhau. Người lập sổ thấy chúng giống nhau.”
“Tại sao Tôn Thị không nói điều ấy từ đầu?”
Mộc nhìn thẳng vào nàng.
“Tôi đã nói nhiều năm rằng không được bỏ nút dây. Nhưng khi dây đã mất, chính tôi cũng không thể chỉ vào một hòm rồi nói chắc nó thuộc dòng nào. Đoán sai thì mùa giống của cả một xóm có thể mất.”
Bà dừng lại, hai ngón tay vuốt phẳng một đầu dây vừa bị xổ.
“Người của triều đình trước đây chỉ hỏi tôi một cái tên để ghi vào sổ. Tôi muốn biết Công Thị đến để lấy thêm một cái tên, hay thật sự chịu cùng chúng tôi tìm lại cách dùng.”
Thanh siết đoạn dây trong tay. Nút vừa buộc lệch đi, nàng phải tháo ra làm lại.
“Ngày mai,” nàng nói sau một lúc, “xin Tôn Thị dạy tôi buộc lại toàn bộ các nút.”
Sáng ngày thứ tám, Mộc dạy Thanh buộc lại từng kiểu nút. Đầu gối nàng vẫn đau mỗi khi quỳ xuống, nên bà cho nàng ngồi tựa vào cột, đặt các túi mẫu thành một vòng trước mặt.
Đến trưa, Thanh đã phân biệt được nút chỉ cách hong hạt với nút chỉ cách dùng nước đầu. Nàng vẫn chưa biết hòm nào thuộc dòng nào.
Thanh xin mở lại hòm có mẫu hạt không nảy để chuẩn bị lần thử thứ hai. Nàng chia số hạt mới lấy thành hai phần bằng nhau: một phần sẽ được hong theo lệ dòng chân gò, phần kia giữ nguyên làm mẫu đối chiếu.
Sau khi lấy đủ hạt, Miên lau sạch bụi quanh miệng hòm trước lúc đóng nắp. Khi chiếc chốt gỗ được tháo hẳn ra, em phát hiện một đoạn xơ dây bị ép sâu trong khe. Đoạn xơ ngắn và đã bẹp xuống, nhìn qua chỉ giống một dằm tre.
Người nhận kho nhớ lại rằng khi trút túi giống vào hòm, một sợi dây buộc đã xổ và mắc ngang miệng hòm. Ông kéo phần dây dài ra rồi đóng nắp, không biết một đầu xơ đã bị chốt gỗ ép giữ lại.
Mộc đặt đoạn xơ lên lòng bàn tay, nhìn rất lâu nhưng không vội gọi tên nó.
Dây của xóm ven sông được se thuận bằng bẹ non, mặt xơ mềm và mịn. Dây của xóm chân gò được se ngược bằng bẹ già hơn, để lại những đầu xơ cứng. Đoạn mắc dưới chốt có cách se và chất xơ giống dây của xóm chân gò.
Thanh không lấy nhận định ấy làm kết luận. Nàng mang đoạn xơ tới cả hai nhà giao giống. Người của mỗi nhà tự lấy dây đang dùng ra đối chiếu. Cách se, chất bẹ và lời xác nhận chéo đều cho thấy đoạn dây thuộc túi giống của xóm chân gò.
Ba căn cứ cùng chỉ về một phía: cách se ngược, bẹ già và lời xác nhận của hai nhà giữ giống.
Đến lúc đó, Thanh mới cho đánh dấu lại hai hòm.
Đêm thứ tám và đêm thứ chín, Thanh tự tay hong phần hạt thử theo cách Mộc đã dạy. Nàng trải hạt thành một lớp mỏng trên nia, đặt nơi có gió nhưng không hứng sương. Phần hạt đối chiếu được giữ khô trong túi, không hong, để cả hai phần được ngâm cùng một lúc.
Sáng ngày thứ mười, Thanh đặt hai phần hạt vào hai hàng bát đất, dùng nước lấy từ cùng một vò. Nàng ghi rõ một hàng đã hong hai đêm, hàng kia giữ nguyên.
Suốt ngày hôm ấy, cả hai hàng đều im lìm.
Đến chiều ngày thứ mười một, những hạt đã hong bắt đầu hé đầu mầm trắng. Hàng đối chiếu chỉ có một hạt trương lên, còn lại vẫn nằm im. Thanh không kết luận ngay. Nàng thay vải ẩm, kiểm tra nhiệt và chờ thêm một đêm.
Sáng ngày thứ mười hai, bảy trong mười hạt đã hong nhú mầm. Hàng đối chiếu vẫn chỉ có một hạt hé đầu mầm.
Thanh đặt hai hàng bát cạnh đoạn xơ dây và hai thẻ kho. Lần đầu tiên, nguồn hòm, cách buộc nút và kết quả thử hạt cùng chỉ về một kết luận.
• • •
Ngày thứ mười hai, Hùng trở lại.
Thanh đang ngồi giữa một vòng dây đủ màu. Trước mặt nàng là hai mươi bốn túi giống, mỗi túi có thẻ tre và một kiểu nút được vẽ lại bên cạnh. Đầu gối nàng vẫn quấn vải.
Ánh mắt Hùng dừng lại ở dải vải quanh đầu gối nàng.
“Công Thị bị thương?”
“Chỉ va vào cạnh hòm. Hạt không đổ.”
Hùng nhìn nàng thêm một thoáng rồi mới hỏi:
“Công Thị tìm ra rồi?”
“Đã kiểm chứng được vì sao mẫu hạt từ một hòm không nảy. Nhưng chưa biết phải đổi cách giữ và ghi giống thế nào để chuyện này không lặp lại.”
Nàng chỉ vào đoạn xơ dây đặt cạnh thẻ của hòm giống chân gò.
“Đoạn xơ dưới chốt cho thấy hòm này nhận giống từ xóm chân gò. Dòng ấy phải được hong gió hai đêm trước khi ngâm. Tôi lấy hai phần hạt mới từ cùng một hòm, giữ một phần nguyên như cũ và hong phần còn lại đúng hai đêm. Sáng nay, bảy trong mười hạt đã hong đã nhú mầm. Phần không hong vẫn chỉ có một hạt chịu thức.”
“Còn số hạt đã thử lần đầu?”
“Ba hạt đã hỏng vì bị ngâm quá lâu. Những hạt còn chắc chưa chết, nhưng không nên tiếp tục ngâm theo cách cũ.”
“Còn phần giống trong hòm?”
“Vẫn khô và chưa bị hỏng. Nếu được hong rồi ngâm đúng lệ, chúng vẫn có thể nảy.”
Hùng cầm một túi, xoay nút dây giữa ngón tay.
“Một thứ chữ không được gọi là chữ.”
“Chưa chắc là chữ,” Thanh nói. “Nhưng nó mang điều thẻ tre đã bỏ mất.”
Mộc đi vào gian trong. Khi trở ra, bà cầm một chiếc muỗng xúc hạt bằng gỗ đen bằng cả hai tay. Bà chưa đặt xuống ngay. Ánh mắt bà dừng ở những nút dây Thanh vừa buộc, rồi chuyển sang hai thẻ tre đã được ghi lại.
Sau một lúc, bà đặt chiếc muỗng trước mặt họ. Cán muỗng đã nhẵn vì nhiều đời cầm. Ở mặt dưới có ba hàng vết khắc nhỏ: móc cong, chấm lõm và những nét xiên giống chân chim.
“Nút dây thay được,” bà nói. “Muỗng này thì không ai dám bỏ. Mỗi nhà giữ giống từng có một chiếc. Chúng tôi chỉ còn chiếc này.”
Thanh lật cán muỗng về phía sáng. Những dấu ấy không giống cách ghi trên thẻ tre hiện tại, nhưng vài nét có nhịp lặp rõ ràng.
“Tôn Thị đọc được những dấu này không?”
“Không ai đọc trọn. Tôi chỉ biết hàng đầu nhắc gió, hàng giữa nhắc nước. Hàng cuối, Cơ tôi cũng không biết.”
Hùng đặt bên cạnh nó mảnh vẽ ba dấu đóng mở trên đường nước dưới kho. Một dấu trên muỗng gần giống vết khía thứ ba lão Cẩn không nhận ra.
Thanh nhìn hai vật rất lâu.
“Đừng ghép chúng chỉ vì giống hình,” nàng nói.
“Ta biết.”
“Công Tự đang muốn ghép.”
Hùng mỉm cười.
“Ta đang muốn hỏi.”
Mộc thu lại các túi giống.
“Muốn hỏi thì tìm người còn dùng dấu ấy trong việc hằng ngày. Đừng mang nó vào phòng kín rồi đoán đến khi vừa ý.”
Thanh gói chiếc muỗng trong vải, nhưng không đặt vào tay Hùng.
“Vật này ở lại nhà giữ giống. Chúng ta chỉ mang bản dập.”
Hùng gật đầu. Chàng đã học được từ dòng nước rằng đem một vật ra khỏi nơi nó sống có thể khiến người ta giữ được hình mà đánh mất cách dùng.
Ngoài sân, gió lay những nong hạt mới chọn. Hàng nghìn vỏ trấu va vào nhau thành âm thanh nhỏ, khô và đều. Không hạt nào nói nó đã đi qua mưa nào, đất nào hay bàn tay nào. Những điều ấy nằm trong mùi, trong nút dây, trong một vết khắc dưới cán muỗng — kín đáo đến mức người chỉ nhìn vào tên gọi sẽ tưởng chẳng có gì ở đó.
Thanh đặt bản dập cạnh hai thẻ kho giống hệt nhau.
“Ngày mai,” nàng nói, “chúng ta tìm người còn biết dùng những dấu này.”
Hùng nhìn nét cong như một dòng nước đang khép mình dưới đất.
“Ngày mai,” chàng đáp.