Chương 1: Tiếng nước dưới nền thành

Tiếng nước đến trước khi mặt trời mọc. Nó không lớn. Giữa những hồi mõ đổi phiên, tiếng guốc của lính tuần và tiếng bánh xe nghiến trên con đường lát đá, chẳng mấy ai để ý đến một âm thanh mỏng như sợi chỉ đang rỉ ra dưới nền kho lương phía đông. Nhưng Công Tự Hùng đã đứng yên giữa sân, bàn chân đặt trên phiến đá lạnh, nghe nó lần thứ ba. Róc rách. Rồi im. Róc rách. Không giống nước mưa chảy trong máng. Mưa đã dứt từ nửa đêm. Cũng không giống tiếng người đổ nước rửa sân; âm thanh ấy ở sâu hơn, vọng qua những lớp đá ghép khít dưới chân. Người coi kho đứng bên cạnh, hai tay đan trước bụng. Ông giữ lễ với thân phận Công Tự của Hùng, nhưng không có vẻ chờ lệnh. Kho lương thuộc quyền của quan giữ kho; Hùng đến đây sáng nay chỉ vì đêm qua nghe người hầu nhắc nền kho phía đông thường lạnh bất thường sau mưa. “Bẩm Công Tự, có lẽ nước còn đọng trong rãnh.” Hùng không nhìn ông. Chàng cúi xuống, áp những đầu ngón tay vào đường ghép giữa hai phiến đá. “Rãnh ở phía nào?” “Dạ… phía tường nam.” “Ta đang đứng sát tường bắc.” Người coi kho nuốt khan. Sau lưng ông, bốn người giữ kho cùng cúi mặt. Trong ánh đuốc sắp tàn, những dãy cột gỗ hiện lên nặng nề, đỡ mái ngói đỏ sẫm còn ướt. Trên các bệ kê cao là những chum kê, thóc và hạt giống dùng khi mất mùa. Chum nào cũng được trát miệng, đóng dấu, ghi ngày nhập kho bằng những nét Khoa Đẩu nhỏ gọn trên thẻ tre. Mọi thứ trông đúng phép. Chính vì quá đúng phép nên Hùng càng thấy không yên. “Ta muốn xem kho thứ ba. Muốn mở niêm cần những ai?” Người coi kho vội ngẩng lên. “Thưa Công Tự, kho ấy vừa niêm. Tôi không có quyền tự mở khi chưa đủ người chứng kiến.” “Vậy phiền cho mời người có quyền mở niêm. Trong lúc chờ, ta muốn xem sổ.” Một người giữ kho chạy đi. Lát sau, anh ta ôm tới ba bó thẻ tre. Người coi kho chọn rất nhanh một thẻ, dâng bằng hai tay. Hùng đọc hàng dấu ở đầu thẻ, rồi nhìn dây buộc màu nâu sẫm. “Kho thứ ba nhập đủ hai mươi bốn chum cách đây mười một ngày?” “Dạ.” “Không mở từ đó?” “Dạ.” “Không chuyển đi?” “Dạ, tuyệt nhiên không.” Hùng trả thẻ lại. Tiếng nước dưới nền lại vọng lên. Chàng đang định quỳ xuống nghe thì ngoài sân có tiếng chân gấp. Quan giữ kho tới cùng hai người làm chứng, áo ngoài còn chưa buộc hết đai. Ông kiểm dấu niêm, áp tai vào cửa rồi tự tay đặt dao lên khay. “Mở kho.” Sợi dây được cắt dưới mắt đủ ba người. Hùng đứng sang bên. Chàng hiểu rõ: nếu tự mình phá niêm chỉ vì mang danh Công Tự, mọi điều tìm thấy sau cánh cửa này sẽ bị kéo vào một cuộc tranh cãi về quyền của chàng, không phải về dòng nước. Cánh cửa gỗ vừa hé, một luồng khí ẩm lạnh phả ra. Mùi thóc không bay lên trước. Mùi bùn mới là thứ tràn vào mũi họ. Người coi kho khụy một đầu gối. “Bẩm Công Tự…” Quan giữ kho bảo ông ta đứng lên rồi sai người cầm đuốc. Nước phủ nền kho thành một lớp mỏng. Không nhiều, chỉ ngập đến nửa đốt ngón tay, nhưng đủ để chân những bệ gỗ sẫm màu. Ba chiếc chum ở hàng cuối đã nghiêng. Một dòng nước nhỏ đang trườn từ khe tường, lặng lẽ len dưới những chân bệ rồi mất hút qua một đường nứt phía đối diện. Hùng bước xuống. Nước lạnh xuyên qua đế giày. Quan giữ kho lập tức gọi người chuyển chum. Hùng cởi áo ngoài, ghé vai vào một đòn khiêng còn thiếu người. Khi chiếc chum thứ nhất được nhấc lên, đáy bệ lộ ra một vệt mốc trắng. Vệt ấy không thể hình thành trong một đêm. Hùng nhìn người coi kho. “Nước vào đây bao lâu rồi?” “Tôi… tôi không biết.” “Người coi kho mà lại không biết?” “Tôi có kiểm tra mỗi ngày.” “Mỗi ngày chỉ kiểm tra dấu niêm.” Hùng dùng mũi dao cạo lớp mốc trên chân bệ. “Không phải nền kho.” Người coi kho im lặng. Quan giữ kho giơ tay chặn câu hỏi tiếp theo. “Công Tự, việc tra người thuộc trách nhiệm của tôi.” Hùng gật đầu. “Phải. Tôi chỉ muốn biết nước đi từ đâu.” Ngoài sân bắt đầu có ánh sáng. Tiếng người gọi nhau dậy vang từ khu nhà phía dưới, theo gió sớm dồn lên thành từng đợt. Một ngày mới đang mở ra, nhưng trong kho lương, ai nấy đều đứng như bị giữ giữa đêm. Hùng không hỏi tiếp. Chàng cúi xuống dòng nước, thả vào đó một mảnh vỏ trấu. Vỏ trấu xoay hai vòng, trôi về phía khe tường đông rồi bất ngờ đổi hướng, bị kéo ngược vào đường nứt dưới bệ đá. Nước không chỉ tràn vào. Nó đang đi qua. Chàng quay sang quan giữ kho. “Nếu quan cho phép, xin mang một bát tro mịn và gọi người biết nền đá. Tôi có một cách thử dòng thấm, nhưng chưa chắc đúng.” Quan giữ kho nhìn lớp nước rồi gật đầu. “Cứ thử. Người của kho sẽ đứng cùng.” Hùng nhìn những thẻ tre được buộc ngay ngắn trên cột. Sổ ghi đủ chum, đủ ngày, đủ dấu. Không có dòng nào sai. Nhưng nếu trời nắng lên và nước tiếp tục chảy, hai mươi bốn chum lương có thể hỏng trước khi người ta kịp tìm ra một lỗi trong sổ. Chàng chợt thấy điều đáng sợ không nằm ở những gì bị ghi sai. Nó nằm ở những gì không ai nghĩ cần phải ghi. • • • Đến khi mặt trời lên khỏi mái thành, sân kho đã đầy người. Họ tới theo lệnh của quan giữ kho, không phải của Hùng. Nhưng khi thấy chàng rắc tro dọc khe đá và ngồi chờ cùng thợ, vẻ dè chừng trong những ánh mắt dần bớt đi. Thợ xây nói tường không nứt. Người trông rãnh thề các đường thoát nước đều thông. Người tuần đê vừa trở về cũng xác nhận đoạn đê phía bắc còn nguyên, không có chỗ sạt hay nước tràn qua mặt. Một viên lại chuyên giữ bản đồ nền thành mang tới hai tấm da thuộc đã cũ, trải trên chiếc bàn dài. Trên đó, các kho lương được vẽ thành những hình chữ nhật đều đặn; những rãnh thoát nước chạy như xương cá về phía tường nam. Không đường nào đi dưới kho thứ ba. Hùng rắc tro mịn dọc theo khe đá. Chỉ một lúc sau, phần tro gần chân tường bắc sẫm lại. Nước thấm từ dưới lên, không phải từ tường vào. “Đào nền,” viên lại nói ngay. Ông dùng ngón tay khoanh ba hàng đá trên bản vẽ. “Nước ở dưới thì phải mở đường xuống dưới.” Người thợ xây chặn tay ông trước khi đầu ngón tay chạm vào mặt bản đồ. “Dỡ ba hàng ấy, chân cột phía bắc sẽ mất chỗ tựa.” “Vậy chống cột trước.” “Quan nói nghe nhẹ quá.” Người thợ chỉ những bệ chum còn đang được chuyển ra. “Kho phía tây đã lấy hết gỗ thẳng để sửa mái. Nếu nền lún, người ghi lệnh đào không phải là người bị bắt đền cái kho này.” Viên lại rút tay về, mặt nóng lên. “Cứ đứng nhìn nước ngập thì không ai phải chịu trách nhiệm sao?” Người thợ xây mím môi. Ông không đáp, nhưng cũng không bước tới gần hàng đá. Hùng nhìn ra ngoài sân. Những người chuyển chum đang đi thành hàng. Họ bước rất cẩn thận, vậy mà một chiếc chum vẫn trượt khỏi đòn khi người phía sau vấp vào bậc đá. Tiếng kêu bật lên. Hùng chạy tới cùng mấy người khác đỡ lấy. Vai chàng hứng phần bụng chum, nặng đến mức đầu gối chùng xuống. Một người đàn ông già từ cuối hàng bỗng quát: “Đừng ghì ngược! Người sau hạ vai, người trước bước chéo sang trái! Xoay quai chum về phía Công Tự!” Tiếng quát sắc đến mức mọi người làm theo trước khi kịp nghĩ. Người phía sau hạ đầu đòn. Sức nặng đang kéo lệch lập tức chuyển dọc theo thân gỗ. Hùng xoay chiếc chum vừa đủ để hõm tay cầm quay về phía mình, luồn các ngón tay vào rồi ghì sát thân chum. Người đi trước trượt thêm nửa bước, nhưng lần này chân anh ta đã tìm được bậc đá. Ba người cùng hạ vai. Chiếc chum chạm đất bằng một tiếng nặng và đục. Mọi người còn đang thở dốc thì ông già đã cúi xuống. Ông lấy một ít bùn bám dưới đáy chum, đưa lên ngửi. “Nước cũ.” Viên lại cau mày. “Nước nào chẳng là nước?” Ông già không đáp. Ông vò bùn giữa ngón cái và ngón trỏ, rồi đưa cho Hùng. Trong lớp bùn xám có những hạt đen nhỏ đến mức thoạt nhìn chỉ giống cặn bẩn. Nhưng khi Hùng miết bùn khỏi đầu ngón tay, chúng vẫn giữ lại một ánh lạnh dưới nắng. Thứ bị mọi người coi là bùn thải lại là dấu hiệu duy nhất cho thấy dòng nước đã đi qua lớp đất nào. “Nước rãnh phía nam không mang thứ này,” ông nói. “Nó đi qua đất đỏ. Cát đen từ bờ bắc.” Hùng nhận ra đôi bàn tay ông. Các ngón tay lệch đi, móng dày, lòng bàn tay có những vết chai hình vòng cung. Đây không phải tay thợ xây tường. Là tay của người đã dùng một dụng cụ phải xoay nhiều năm. “Tôn Tự làm nghề gì?” “Trước kia dẫn nước. Sau người ta lấp các máng cũ, tôi chuyển sang sửa cối.” “Tên Tôn Tự?” “Cẩn.” Viên lại chen vào: “Bẩm Công Tự, người này không có tên trong đội thợ của thành.” Lão Cẩn liếc về phía viên lại. Một bên khóe miệng lão nhếch lên, nhưng không thành cười. “Không có tên thì nước tôi từng dẫn cũng thôi chảy sao?” Hùng nhìn bàn tay chai cứng của lão rồi quay sang viên lại. “Ta đang hỏi Tôn Tự, không hỏi danh sách.” Chàng ngồi xuống đối diện lão Cẩn. “Tôn Tự bảo đây là nước cũ. Cũ thế nào?” “Nước từng đi lối này trước khi kho được dựng.” Viên lại bật cười khẽ, nhưng bắt gặp mắt Hùng thì vội im. “Bản đồ không có đường nước,” Hùng nói. “Bản đồ ấy vẽ lúc đã có kho.” “Đã từng thấy lối cũ?” “Không.” Hùng khựng lại. Viên lại phía sau khẽ bật ra một tiếng cười. Lão Cẩn không quay đầu. Lão chỉ vò lớp bùn giữa hai ngón tay, chậm rãi đến mức tiếng cười kia tự tắt. “Vậy Tôn Tự dựa vào đâu mà biết?” Hùng hỏi. Lão Cẩn lúc ấy mới nhìn chàng. “Công Tự muốn biết tôi đoán, hay muốn biết dòng nước đã để lại dấu gì?” Hùng đặt thanh tre đang cầm xuống. “Dấu gì?” Lão Cẩn ngồi xuống cạnh bậc đá, lấy trong túi một đoạn dây bện. Ông buộc một hòn sỏi vào đầu dây, thả xuống bát nước đục vừa múc trong kho. Hòn sỏi chìm. Ông xoay cổ tay rất nhẹ. Mặt nước gợn lên, cát đen tụ lại thành một vòng mỏng về một phía. “Nước rãnh đi thẳng, mang rác nhẹ. Nước chạy dưới đá lâu ngày mang cát nặng, chạm góc thì xoáy. Dòng trong kho xoáy rồi mới thoát. Dưới nền phải có chỗ rỗng.” Hùng ngồi xuống đối diện ông. “Nếu có chỗ rỗng, vì sao bây giờ nước mới tràn?” “Ai nói bây giờ mới tràn?” Người coi kho tái mặt. Lão Cẩn liếc ông ta, nhưng không cười nhạo. “Trời nắng, nước đi dưới đá, chẳng ai thấy. Mưa lớn, mạch đầy, nó dâng lên. Kho này kê cao nên nhiều năm chỉ ẩm chân bệ. Năm nay người ta trát kín khe phía đông để chống chuột. Nước không thoát được nữa, phải tìm đường khác.” Người thợ xây chợt nói: “Ba tháng trước chúng tôi có trát một dải dưới tường đông.” Viên lại quay phắt sang. “Sao không ghi vào bản đồ?” “Sửa khe chống chuột cũng phải ghi sao?” Không ai trả lời. Hùng nhìn lớp tro đang sẫm dần. Một việc nhỏ, đúng trong mắt người làm nó, đã chặn một dòng nước không còn tồn tại trên bất kỳ tấm bản đồ nào. Không có kẻ phá hoại. Không có phép lạ. Chỉ có nhiều lớp việc chồng lên nhau, mỗi người biết một đoạn, không ai nhìn thấy cả đường. “Tôn Tự,” Hùng hỏi, “có cách mở lối mà không dỡ nền kho không?” Lão già gãi cằm. “Nếu còn miệng thăm.” “Ở đâu?” “Những đường nước cũ thường có miệng thăm ở chỗ người ta đứng nghe được tiếng dòng đổi. Nhưng thành đã xây lên nhiều lớp. Có khi nó nằm dưới một sân, có khi dưới bếp nhà ai đó. Cũng có khi đã bị lấp từ đời Cội tự tôi.” “Tôn Tự có tìm được không?” “Không chắc.” “Ta không cần một lời chắc chắn. Ta cần Tôn Tự chỉ cho ta cách tìm.” Lão Cẩn nhìn Hùng lâu hơn. Cái nhìn của ông không giống người đứng trước một Công Tự. Nó giống người thợ đang xem một dụng cụ có chịu được việc hay không. “Phải xuống khu nhà bờ bắc,” ông nói. “Hỏi những nhà có chum nước tự đầy vào mùa mưa, những bếp nghe tiếng ếch dù không gần ao, những sân sáng sớm có một vệt rêu mà nắng trưa không làm khô. Đừng hỏi quan. Quan chỉ biết đường đang dùng.” Viên đội trưởng nhíu mày. “Công Tự không thể đi từng nhà nghe chuyện ếch kêu.” Lão Cẩn thản nhiên cuộn lại sợi dây. “Vậy cứ đào kho.” Hùng bật cười. Đó là tiếng cười đầu tiên trong buổi sáng, khiến mấy người giữ kho ngẩng lên ngạc nhiên. Hùng quay sang viên đội trưởng của mình. “Chúng ta xuống bờ bắc.” Viên đội trưởng sững ra. “Bẩm Công Tự, bề tôi xin cho thêm hai người đi cùng.” “Chỉ hai người theo ta. Bỏ áo choàng nghi lễ. Không mang giáo dài.” “Nhưng khu bờ bắc…” “Ở đó có người sống, đúng không?” “Dạ.” “Vậy ta đi được.” • • • Khu nhà bờ bắc bắt đầu ở nơi con đường lát đá hẹp lại thành những lối đủ cho hai người tránh nhau. Nước từ mái hiên nhỏ xuống những chum đặt sát vách. Mùi cá hun, mùi gỗ ẩm và mùi khói bếp quyện trong không khí. Trẻ con chân mang giày cỏ chạy qua, thấy Hùng thì chậm lại vì nhận ra đai áo của chàng, nhưng lão Cẩn quát chúng tránh khỏi vũng bùn như vẫn quát mọi ngày. Hùng hiểu vì sao lão bảo bỏ nghi trượng. Chỉ cần thêm bốn người lính và một tiếng hô dẹp đường, tất cả cửa nhà sẽ đóng lại trước khi họ kịp hỏi. Nhà đầu tiên không có gì. Nhà thứ hai có rêu vì mái thủng. Nhà thứ ba nghe tiếng ếch vì một đứa trẻ giấu cả giỏ ếch dưới bếp. Đến nhà thứ bảy, một người đàn bà lớn tuổi chống tay ở cửa, không cho họ bước vào. “Sân nhà tôi không có nước.” Lão Cẩn chỉ xuống chân bà. “Tôn Thị vừa lấy tro phủ vệt rêu.” Bà im lặng. Hùng tháo miếng ngọc nhỏ trên đai, đưa cho viên lính phía sau giữ. Chàng bước khỏi bậc cửa, đứng dưới mưa bụi còn rơi từ mái. “Ta không đến lấy nhà của Tôn Thị,” chàng nói. “Kho lương trên thành đang ngập. Nếu không tìm được đường nước, hạt dành cho lúc đói sẽ hỏng.” “Kho trên thành hỏng thì các người xây kho khác.” “Trước khi xây xong, người ta vẫn phải ăn.” Bà nhìn chàng từ đầu đến chân. “Công Tự cũng ăn thóc trong kho ấy sao?” “Nếu mất mùa, có.” “Còn nhà chúng tôi?” Hùng không trả lời ngay. Chàng không biết kho ấy sẽ được phát thế nào nếu đói thật sự tới. Có lẽ quan kho biết. Có lẽ trong sổ có ghi. Nhưng một câu trả lời vay mượn sẽ đóng cánh cửa này nhanh hơn bất cứ lời đe dọa nào. “Ta chưa biết,” chàng nói. “Nhưng ta sẽ hỏi.” Người đàn bà nhìn lão Cẩn. Lão nhún vai. Cuối cùng bà tránh sang một bên. Giữa sân có một vệt rêu hình lưỡi liềm. Tro mới rắc che không kín. Lão Cẩn quỳ xuống, gõ các đốt ngón tay lên từng viên đá. Âm thanh đều đặn cho đến viên thứ chín thì trầm hẳn. Ông bảo người nhà mang một thanh gỗ. Không ai có thanh nào vừa ý, người đàn bà liền rút cán chày giã gạo. Lão Cẩn cắm cán chày vào lỗ nhỏ ở mép đá, xoay nửa vòng rồi ấn xuống. Phiến đá bật lên. Bên dưới không phải đất. Một ống gốm lớn chạy xiên qua sân, rộng đủ để một cánh tay thò vào. Nước đang chảy trong đó, trong hơn nước kho, nhưng mang những hạt cát đen sáng lấp lánh. Trên miệng ống có ba vết khía. Lão Cẩn đưa ngón tay lần theo dấu thứ nhất, rồi dấu thứ hai. Đến dấu cuối, đầu ngón tay lão dừng lại. Lão miết qua nó lần nữa, mạnh đến mức bùn mắc dưới móng tay. “Dấu đóng mở,” lão nói. Giọng không còn chắc như lúc đứng ở kho. “Tôi chỉ được dạy hai dấu.” Hùng cúi xuống cạnh lão. “Dấu thứ ba dùng để làm gì?” Lão Cẩn không trả lời ngay. Lão nhìn dòng nước dưới ống, rồi khép bàn tay vừa chạm vào vết khía. “Không biết.” Lần này viên lại không cười. “Quân của Tôn Tự không truyền lại sao?” Hùng hỏi. “Có thể Quân tôi cũng không biết.” Lão Cẩn nuốt khan. “Hoặc biết mà chưa kịp dạy.” Hùng cúi sát. Ba vết khía không trang trí, cũng không giống dấu của thợ gốm hiện tại. Chúng nằm đúng nơi bàn tay phải chạm vào khi xoay nắp. Có người đã đặt tri thức vào động tác thường ngày, để một người không đọc được chữ vẫn biết phải mở, giữ hay đổi dòng. “Ống này dẫn tới kho?” Hùng hỏi. “Một nhánh của nó.” Lão Cẩn chỉ dòng nước. “Muốn biết phải thả dấu.” Ông xin một nắm trấu rang. Người đàn bà mang ra thứ trấu đã nhuộm màu đỏ để trộn đất bếp. Lão Cẩn thả xuống ống rồi đậy phiến đá lại. “Giờ về kho.” Họ chạy. Lúc Hùng trở lại, mặt trời đã lên cao. Nước trong kho vẫn rỉ qua khe. Mọi người đứng vòng quanh bát hứng đặt dưới dòng. Một hạt trấu đỏ xuất hiện, xoay tròn trong bát rồi mắc ở mép. Sau đó là hạt thứ hai. Rồi hạt thứ ba. Không ai nói gì. Trên tấm bản đồ không có đường nước vừa được tìm thấy. Giữa những người có tên trong sổ và chức phận rõ ràng, người nhận ra dấu quyết định lại là một ông già sửa cối không thuộc đội thợ nào của thành. Hùng cầm hạt trấu đỏ lên. Nó nhẹ đến mức dính vào đầu ngón tay, nhưng đã đi dưới những lớp đá của thành, xuyên qua một con đường bị quên, để nối căn nhà nhỏ ở bờ bắc với kho lương được canh giữ nghiêm ngặt nhất. Hùng quay sang quan giữ kho. “Miệng thăm đã tìm được. Nếu mở nó, có thể dẫn nước khỏi nền mà không phá ống. Còn bản đồ… tôi nghĩ người giữ bản đồ nên ghi cùng lão Cẩn và những nhà đang sống trên đường nước.” Viên lại cau mày. “Việc vẽ đường nước thuộc người giữ bản đồ.” Hùng đặt hạt trấu đỏ xuống mép bản da. “Người giữ bản đồ biết cách ghi. Lão Cẩn biết nước từng đi thế nào. Người sống phía trên biết nơi nào còn ẩm. Thiếu một trong ba, chúng ta sẽ lại có một tấm bản đồ rất đẹp và một kho lương ngập.” Quan giữ kho nhìn hạt trấu hồi lâu rồi nói: “Ta sẽ lập bản trình xin người. Công Tự có bằng lòng ghi lại cách thử hôm nay để cùng ký làm chứng không?” “Tôi bằng lòng.” Người coi kho quỳ xuống trước quan giữ kho. Hai bàn tay ông đặt trên đầu gối nhưng không ngừng run. “Tôi xin chịu tội vì đã giấu việc nền ẩm.” Quan giữ kho nhìn ông hồi lâu. “Vì sao người coi kho lại giấu?” “Lần đầu chỉ có một chân bệ mốc.” Ông cúi thấp đầu. “Tôi sợ báo lên sẽ bị quy làm hỏng kho. Tôi cho thay gỗ, cạo sạch vết mốc rồi nghĩ thế là xong.” “Còn lần sau?” Người coi kho mở miệng nhưng không nói được ngay. “Lần sau… nếu báo, tôi phải thú nhận mình đã giấu lần trước.” Quan giữ kho đặt tay lên thanh lệnh. “Bao nhiêu lần?” “Ba lần trong hai mùa mưa.” Tiếng xì xào nổi lên. Người coi kho co các ngón tay, như muốn giữ lấy đầu gối để chúng khỏi khuỵu hẳn. “Tôi chỉ nghĩ thay một khúc gỗ thì không ai mất gì,” ông nói. “Tôi không biết dưới nền còn một đường nước.” Quan giữ kho nhìn những chiếc chum vừa được chuyển ra sân. “Không biết đường nước không xóa được việc nền kho đã ẩm ba lần.” Quan giữ kho giao người coi kho cho viên lại ghi lời. Hùng không xen vào việc định tội. Chàng chỉ đề nghị người coi kho chỉ hết những nơi từng có ẩm, mốc, đá lạnh hoặc nền lún, trước khi nỗi sợ làm ký ức của ông ta méo thêm. Lão Cẩn đứng bên cửa, bàn tay vẫn nắm sợi dây buộc đá. Hùng bước tới. “Tôn Tự đã giữ hai dấu ấy bao lâu?” “Từ khi còn thấp hơn cái bệ kia.” “Từng nghĩ hai dấu là đủ sao?” Lão Cẩn nhìn xuống những ngón tay đã lệch đi sau nhiều năm xoay cối. “Quân tôi chỉ dạy chừng ấy. Tôi tưởng chừng ấy là tất cả.” Hùng nhìn về phía miệng thăm vừa được tìm thấy. “Bây giờ thì không đủ nữa.” “Bây giờ mới biết là không đủ.” Hùng khép bàn tay quanh hạt trấu đỏ. Đường nước chưa từng biến mất. Nó vẫn chảy dưới nền thành, qua những miệng thăm bị lấp và những động tác người ta còn làm dù đã quên tên. Chỉ có con đường nối những phần hiểu biết ấy là đã đứt. Trên bàn, tấm bản đồ vẫn sạch sẽ và ngay ngắn. Dưới chân chàng, nước tiếp tục chảy qua phần da thuộc không hề ghi lại. Từ phía cổng kho, một người đưa tin chạy vào, thở gấp. “Bẩm Công Tự, Công Thị Thanh đang chờ ở nhà giữ giống. Có việc gấp.” “Việc gì?” “Hai hòm hạt cùng một tên, cùng một dấu nhập, nhưng một hòm đã nảy mầm trong kho, hòm kia gần như không hạt nào chịu thức. Công Thị nói không được mở thêm cho đến khi Công Tự tới.” Hùng nhìn nước vẫn trôi qua khe đá, rồi nhìn hạt trấu đỏ trên tay. Cùng một tên. Cùng một dấu. Hai kết quả khác nhau. Chàng trao hạt trấu cho lão Cẩn. “Giữ lấy. Chiều nay ta quay lại.” Lão Cẩn không nhận ngay. “Công Tự tin tôi?” “Chưa.” Hùng đáp. “Nhưng ta tin điều Tôn Tự vừa chỉ cho mọi người. Chừng ấy đủ để bắt đầu.” Lão Cẩn nhìn hạt trấu trong lòng bàn tay Hùng, rồi mới đưa tay nhận. Rồi chàng rời kho, mang theo tiếng nước dưới nền thành. Lần này, chàng không còn nghe nó như một sự cố. Chàng nghe nó như một lời gọi.
Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ