Ngày 23 tháng tư, tức là 17 ngày sau trận chiến ác liệt ở Đông Hoàn và cũng như hơn 1 tuần mà Cự Tiên hứa với Lê Uýnh về sự xuất hiện của vị quân sư bí ẩn thuộc người Hỗn tộc với một lời hứa rằng vị ấy sẽ xoay cục chuyển thế, biến đổi cả xứ Nam nhỏ bé này trở thành bá chủ một phương trời. Binh lính canh giữ thành Cơ Cở xuất báo gần 300 dặm cho chủ soái doanh trại Hưng Lâm rằng có một người Hỗn tộc, vóc dáng cao trắng, không để râu nên khuôn mặt rất khôi ngô mặc tía phục; vị ấy muốn gặp chủ soái toàn quân Lâm Nam vào đêm nay, đi tốc hành bằng đường thủy. Lê Uýnh mừng rỡ, tự thân cùng hơn 200 cận vệ dẫn thuyền hộ tống quý nhân Hỗn tộc đi thuyền từ Liệp Sanh vạn dặm mà tới đạo Lâm Nam hãy còn kém văn minh này.
Lúc đêm, khi Lê Uýnh ở trên chiến thuyền chèo một tầng, ông ngồi trên sảnh cao có lầu che, tựa mình trên ghế gỗ lim đơn điệu mà chờ thì một thân vệ cấp báo:
” Bẩm chủ công, tôi đã thấy bóng dáng của một con thuyền buồm trắng to, mang theo lá cờ có chữ Liệp theo văn tự nước ta mà làm hiệu!”
Lê Uýnh nhắn bảo tên thân vệ ấy:
” Tốt! Hãy giơ cờ hiệu để bên kia biết ta là người của chính Cự Tiên đã nhắc tới!”
Ba chiếc thuyền chèo lên phía trước, tiến gần tới thuyền buồm trắng lớn có mui chạm trổ sến hồng bằng điêu khắc gỗ sơn màu ấy nhưng lại không áp sát, sau đó chúng xoay lại theo hướng đi của thuyền sến hồng có cờ chữ Liệp này. Các chiến thuyền sau đó bắt đầu giơ lên ba cờ có ba sắc thái khác nhau: trắng – vàng – tím: là ám hiệu của Cự Tiên được ghi chép rõ ràng cho vị quân sư đó từ trước rằng Lê Uýnh sẽ mời vị ấy về doanh trại làm quân sư.
Nhờ đó mà chiến thuyền buồm trắng mới sải buồm đi theo, tiến vào con sông nhỏ có nhiều bãi sậy, xung quanh là các cánh rừng rậm trên vùng đất lúc ngập nước, lúc không ngập nước bởi Lâm Nam hãy còn hoang sơ rất nhiều, dù có nhiều thương cảng và buôn bán gạo tấp nập.
Gần tới canh năm, tức là trời sắp hừng sáng thì đoàn thuyền hộ tống đã đậu sẵn trên bến nhỏ gần doanh trại của nghĩa quân Lâm Nam. Mọi người trong doanh đều nghinh cung ra đứng chỉnh tề, binh sĩ đều mang trường thương với khiên tấm tròn như bầu lá sen, họ đội nón vải vuông cứng đính sắt và mặc giáp tấm miếng bằng đồng có màu đỏ sẫm đại diện cho đạo Lâm Nam; tất cả được sắp xếp để thể hiện uy lực và tôn kính cho cả vị thế chủ tướng từ Giao Bắc và vị khách quý từ phương xa đến giúp giành lại quê cha đất tổ cho họ.
Khi thuyền trắng đậu ở cảng một hồi thì trên thuyền một sà ngang gỗ được hạ xuống đất, xuất hiện 20 người chiến sĩ cao hơn 5 trượng mặc áo xích phủ áo vải ngoài màu xanh biển với phục hiệu là cây bạch tổ vạn năm – vốn chỉ có ở Liệp Sanh và những vùng đất đại tiên vĩ đại khác, cây ấy là sinh khí của toàn tộc.
Đằng sau 20 chiến sĩ đến từ Hỗn tộc ấy, một người mặc gấm kiểu Trung Nguyên màu tía đi ra giữa bọn thân sĩ Liệp Sanh, người đó có dáng tương đồng với lại những chiến sĩ kia nhưng nét mặt không hề giống như một chiến binh mà giống hơn là một người trẻ có phong thái có thể viết chữ đàm đạo kiểu nho sinh tám phần, y hệt miêu tả của binh tốt ở Cơ Cở đã nói (dù thực tế tuổi người ấy già hơn cả Lê Uýnh và Cự Tiên, vốn là thuộc dạng đại lão ở Lâm Nam).
Người đó liền đáp với Lê Uýnh – lúc này vị chủ tướng toàn quân Lâm Nam cũng từ thuyền bên kia sang tiếp đón như người học trò với người thầy lâu năm chưa gặp bằng thổ ngữ[1] địa phương rằng:
” Thần thực sự đã làm phiền đại nhân rất nhiều rồi, phải nhờ đại nhân từ xa nghênh đón cũng như dùng lễ nghi long trọng chỉ để rước một người vốn tầm thường như thần đây!”
Lê Uýnh nhắm mắt liền gật đầu nhẹ rồi ông tự mở mắt nhìn vị khách ấy một cách ân cần:
” Thực quả tôi lâu rồi không gặp người Liệp Sanh hơn 40 năm về trước rồi bởi họ rất sợ những kẻ ngu đần yêu đắm sắc dục, hư danh mà chém giết, trừ diệt lẫn nhau. Vị quân sư đây là người mà tôi mong chờ từ rất lâu rồi. Vì không chỉ cần quý nhân hỗ trợ quân dân Lâm Nam đuổi Sở tặc mà còn muốn quý nhân tìm cách giải cứu thế giới khỏi sự hỗn loạn, suy vong và tránh tà ác của bọn tà dư Vô Hương, Sói Vương năm xưa. Thế cục này tôi nghĩ quý nhân sẽ hiểu rõ hơn tôi, nếu cần thông tin thì tôi sẽ kể từng sự kiện toàn Đại Lục cho quý nhân đặng tường nhận rõ hơn.”
Vị khách lúc này đứng tâm tư rất lâu, không hề đổi dạng nhưng lại đầy mưu tính nội tâm sâu, liền đáp lại:
” Đã lâu rồi tại thần đã chưa quay lại Đại Lục nên ít nhiều điều thế gian không rõ tận tình, tại thần rất mong đại nhân chỉ giáo rất nhiều điều sâu sắc thêm về các sự việc ở đất Lâm Nam này. Sau đó, tại thần sẽ suy xét giúp cho đại nhân về mưu và sách lược cho việc kinh bang lấy cả Lâm Nam cũng như đem thái bình ấm no cho cả Lục Địa, đẩy lui bọn Rơ và bè lũ tàn dư Vô Hương, Sói Vương”
Lê Uýnh nhìn vị quân sư ấy với một ánh mắt rất vui mừng bởi ông đã tìm được một người có thể đem kế sách trị quốc, giành tự chủ và đẩy lui ma yêu, quỷ tộc. Ông bắt đầu từ tốn hỏi vị quân sư này về tên và danh thế vị ấy:
” Rất mừng vì tiên sinh đã tỏ ý muốn giúp tôi – một kẻ vốn chỉ là huyện lệnh xứ xa xôi không xứng với sự trợ lực vô điều kiện của tiên sinh đây! Mà cho tôi mạo muội hỏi tên của tiên sinh và tiên sinh đã làm gì trước đó bởi dù tôi có hiểu biết chút ít về Hỗn tộc và tộc tinh linh thì cũng chỉ qua lại với người Trũng Thiên mà thôi”
“Nếu như đại nhân đã hỏi than chu đáo như vậy thì thần cũng không dám giấu bất kỳ cái gì thêm” – vị quân sư lúc này đã tỏ rõ danh phận của mình –“ Thần tên là Thống Sư, là cách gọi ở vùng đất Trung Nguyên này, do thần đã đi khắp Lục Địa suốt hơn 200 năm qua rồi. Thực sự thấy mọi vui buồn nhưng càng về sau thần thấy dân chúng ở Lục Địa càng thống khổ, nhất là sau khi quân của Rợ Bắc ngày càng cường thịnh, liên tục đánh phá Hy Dích (nước thuộc Thiên Trúc), Hải Tây cho đến tận Lâm Bắc và nước Cảnh Lư – dân các nơi ấy càng lầm than thêm. Nên vài chục năm gần đây thần đã về quê lại, tự mình trốn tránh hiện thực bởi không muốn dính dáng tới Đại Lục lần nào nữa. Nhưng người tâm phúc của đại nhân (Cự Tiên) đã viết cho tại thần biết chút ít về tình hình ở Trung Nguyên cũng như nêu lên tài năng, đức hạnh tỏ rõ của đại nhân đây; vị ấy cũng viết rằng nếu tại thần cứ lẫn tránh mà không dùng chính tài năng kinh thiên đảo trời xưa thì cảnh tượng Sói Vương diệt hết toàn bộ dấu tích của Hỗn tộc, tinh linh ngày đó sẽ xuất hiện trở lại, loài người sẽ trở thành nô dịch vĩ đại nhất cho lũ ma quỷ này và một thời kỳ tăm tối sẽ quay lại, vốn không phải là nguyện vọng của các vị lão bất tử mang bào xanh đã cứu chúng sinh. Nên tại thần đã dùng hết những tài sản tích cóp mà thuê các cựu binh của Liệp Sanh, cũng như mua các quân nhu, binh khí để tặng cho đại nhân. Chút quà nhỏ mọn này (cận vệ mang các hòm chứa món đồ, vũ khí tốt nhất của Liệp Sanh xuống thuyền) sẽ mong đại nhân lấy trước, vài tuần sau các bộ giáp sẽ tới thêm cho đại nhân”
Lê Uýnh xúc động mà nói lên một câu cảm tạ:
” Thực sự là vị tiên sinh đây đã quá chu đáo. Thống tiên sinh đã chưa được tôi sắp xếp mà đã chuẩn bị tất cả sẵn từ trước từ trước, mong tiên sinh thứ lỗi việc bất cẩn của tôi cho. Giờ tôi và các hầu thần tướng sĩ sẽ mời tiên sinh vào trong trại quán bàn bạc mọi vấn đề cho tường tận”
Thống Sư, Lê Uýnh cùng các phụ thần bước vào trại quán – vốn là nơi ở tạm thời và bàn bạc cho các tướng lãnh để bàn kế, ra sách lược kháng địch ngoại xâm Hậu Sở. Trại ấy được sàn lốp gạch nung còn mái lợp ngói hình bán nguyệt màu nâu sẫm – là đặc trưng của những căn nhà khá giả ở châu Lâm này.
Lê Uýnh ngồi bằng bên trái cùng với các tâm phúc, bằng hữu như Cự Tiên, Nguyễn Tư, Ngô Huyền, Dương Lâm còn bên phải là Thống Sư cùng với bạn hữu đi cùng tương trợ cho ông. Tất cả đều được mời uống trà, nước vối, ăn các món vặt như bánh đậu, mứt chuối và bồi bổ với bát canh hầm gà. Họ vui vẻ trao đổi câu chuyện cho nhau thân mật như đã lâu rồi chưa gặp lại hơn chục năm.
Sau chừng hai, ba canh giờ tới chiều xế thì Lê Uýnh bắt đầu hỏi Thống Sư về việc dựng binh và đánh giặc. Ông muốn thực sự xem vị quân sư này sẽ đưa ra kế sách nào đối ứng khi toàn quân hãy còn thiếu tinh nghệ và quá dựa hơi vào lòng anh dũng của các vị tướng tiên phong giao chiến với giặc.
“Thưa tiên sinh, “ – Lê Uýnh đứng lên đáp với một ánh mắt nghiêm nghị, nhìn thắng trước mặt Thống Sư như đang muốn hiểu một điều gì đó quan trọng –“ tôi muốn hỏi tiên về việc cải tổ quân binh và xây dựng hậu cần, bởi thực sự quân dân chúng tôi khó làm được nổi điều đó so với bọn Sở tặc. Xin tiên sinh có thể giải đáp giúp tôi và các bằng hữu ở đây”
“Bẩm đại nhân, ngài có thể nói rõ cho tại thần nghe về tình hình quân ngũ, cách bố trí quân, tổ chức quân đội, lương bổng và hậu cần quân ra sao và hiện đã làm như thế nào để tại thần có thể hiểu rõ và ứng biến giúp quân của đại nhân được cải thiện hơn!” – Thống Sư đáp lại Lê Uýnh với nét mặt điềm tĩnh và một sự thắc mắc về việc nội quân tình do vị đại nhân này dẫn dắt.
Lê Uýnh thở dài một hơi rất lâu rồi ông mới nói một cách bất lực cho Thống Sư nghe:
” Than ôi thưa tiên sinh, thực sự là quân của chúng tôi là đều do các tổng châu, huyện lệnh tập hợp ở các địa bàn của họ mà tới nghênh chiến với giặc ngụy Sở nên sĩ khí và lực chiến của bọn họ đều thua kém xa các binh đoàn tranh bá, hùng cứ khác ở Trung Nguyên, thậm chí thấp hơn cả quân nước Chang – chỉ là nước Chang chưa thể công phá nổi ải Đương nên tạm yên ổn mặt phía Nam.”
Vị chủ công này cũng chép miệng nói thêm về tình hình Lâm Nam:
” Nếu thực sự quân Lâm Nam này bằng một nửa quân Sở tặc thì đã thắng trận ở Đông Hoàn rồi thay vì phải rút về hậu phương châu Lâm. Lương bổng cũng không có đầy đủ vì các nhóm quân là do mỗi lãnh đạo quân ấy tự giữ cho mình, sau khi vị Đô đạo cũ tức là Khúc Thừa Lan tuẫn tiết trong lúc bại trận thì sĩ khí càng đi xuống, càng rối loạn tổ chức hơn rất nhiều” – Lê Uýnh nói về tình hình quân kháng chiến ở bản doanh Hưng Lâm – “ Hiện nay, tôi chỉ có thể cử vài người giỏi tinh thông võ nghệ giúp lấp các đơn vị còn yếu cách đánh nhau, còn lương bổng ai thiếu thì nhà tôi sẽ trích ra giúp lấy. Mong tiên sinh thứ lỗi cho tình trạng ô hợp của chúng tôi, bởi sự ngu muội, kiêu căng trong việc tổ chức quân thì chúng tôi thực sự bó tay tại xứ Nam lâu ngày yên bình nên sinh lười nhắc và thiếu một người có sự sắc bén trong xây dựng quân như tiên sinh đây. Chúng tôi cùng toàn dân, toàn quân sẽ dốc hết sức để hỗ trợ tiên sinh thực hiện biến pháp, dựng nên tinh binh chỉnh tề, có thể mà trăm trận đều trăm thắng toàn vẹn, lấy thân mình mà liều chết giành lại giang sơn cho quê hương!”
Lê Uýnh đã cùng với tâm phúc, bằng hữu của ông quỳ xuống trước mặt Thống Sư – làm cho chính vị quân sư nở một nét mặt đỏ bối rối và phải tự đỡ mọi người đứng dậy, xin bọn họ đừng quỳ trước mình như vậy.
“Mọi người không cần phải quỳ xin tại như vậy đâu chứ, thần đây tới gặp mọi người để đem chút vốn tài nhỏ mọn ra trợ lực giúp hết sức nhằm cứu lấy Lâm Nam, cũng như toàn Đại Lục này mà thôi!” – Thống Sư ngại ngùng đỡ tất cả đứng dậy trong khi ông cũng vừa nói rằng mọi người không cần phải cung kính mình kiểu đó.
“Thực sự chúng tôi muốn một phần tạ ơn lễ vật của tiên sinh dành tặng cho chúng tôi nữa, giờ đây chúng ta đã hiểu nhau rất nhiều rồi” – Lê Uýnh đáp lại hành lễ - “ Nhờ Trời mà chúng tôi đã thoát khỏi vòng vây của ngụy Sở, giờ đây cũng nhờ Trời mà quân dân Lâm Nam được một vị quân sư từ biển xa mà cực nhọc khó khăn cứu giúp cho xã tắc này. Vậy nên, từ nay mong tiên sinh nhận giúp trọng trách quản lý quân vụ, chỉnh đốn đạo binh. Cũng bèn xin nhận lấy tạm chức Bảo Nam Trọng Tướng Quân – đứng đầu việc chỉ huy đạo quân Lâm Nam xa xăm này!”
Thống Sư chợt chuyển mắt với vẻ lo ngại một hồi rồi thản nhiên nhận lấy chức vụ trọng trách cho toàn quân:
” Nếu như đại nhân cùng các chư vị, khanh tướng ở đây đã muốn kẻ phiêu bạc, giao du cả nửa đời đây làm thống lãnh toàn quân thì rất mong mọi người cần nghe và thuận theo ý những gì mà tại hạ sẽ nói tiếp sau đó”
“Xin tiên sinh hãy bày tỏ hết lòng để chúng tôi hết sức làm lấy giúp, tất cả những gì chúng tôi có thể làm cho tiên sinh!” – Nguyễn Tư vội vàng trả lời cho vị quân sư ấy.
“Cha tôi và tôi sẽ dốc hết nguồn lực châu Lâm nên việc tiền bạc và quân lương tiên sinh không cần phải lấy làm trọng, tụi tôi sẽ không làm sót những phần đó” – Dương Lâm liền đáp theo.
“Tôi cũng sẽ chiêu mộ và tuyển các trai tráng mạnh khỏe, nhanh khéo và dũng cảm trợ lực cho tiên sinh nên tiên sinh đừng lo việc thiếu binh tướng cả” – Ngô Huyền chấp tay trước mặt Thống tiên sinh, đảm bảo về việc tuyển mộ.
“Xin tạ ơn lòng giúp đỡ của các chư vị, giờ thì xin các chư vị hãy nghe kỹ việc cải tổ cho đạo quân ta hãy còn thiếu tinh nghệ một cách cẩn thận và tận tình” – Thống Sư bắt đầu kể những mong muốn cho một đạo quân mạnh mẽ và kiên dũng của Lâm Nam –“ **Thứ nhất**, tất cả các nhóm quân của các châu, các huyện chiêu mộ giờ đây sẽ phải nghe theo mệnh lệnh từ Bảo Nam Trọng Tướng Quân một lòng và cực kỳ kỷ cương theo cách của binh gia; bất cứ ai muốn rời khỏi quân ngũ vì không muốn theo kỷ cương khắc khổ thì có thể rời đi trong vòng 1 tuần, sau 1 tuần thì họ đã chấp thuận ở lại và phải làm theo quân lệnh.
Về việc lương bổng thì tại thần xin phân theo như vậy: bộ binh và thủy binh sẽ nhận mỗi người 2 lượng bạc mỗi tháng; cung thủ, nỏ thủ và lính ném đá sẽ nhận 3 lượng bạc mỗi tháng cho từng tên lính; kỵ binh và thợ rèn sẽ nhận được 4 lượng bạc mỗi tháng, về phần dân phu thì họ chỉ 1 lượng bạc mỗi tháng trên đầu người bởi tính chất công việc của họ không quá nguy hiểm. Còn tướng sĩ thì cấp thấp nhất sẽ nhận được 5 lượng bạc mỗi tên, thêm một cấp tức là thêm một lượng bạc cho họ. Quân lương sẽ mua thêm trước từ các thương nhân cũng như tăng gia sản xuất để khi hành quân thì có tích trữ lâu dài. Lương thực lúc hành quân nên là bánh gạo rang khô nhân mứt – vốn có thể để lâu hơn trong điều kiện thiếu thốn.
**Thứ hai**, đó chính là việc lập ra các doanh từ các đội quân hiện có và sẽ tuyển mộ khắp xứ Nam. Ta nên chia thành ba doanh bởi quân số hiện thời chỉ non 2 vạn người thôi, các doanh ấy đều có thể tự tác chiến độc lập, tự hành quân dưới sự chỉ huy của trưởng doanh. Trong các doanh này sẽ có trưởng doanh, phó doanh, quản phu trưởng, quản phu phó là những người phụ trách, đứng đầu và dẫn dắt có doanh ấy. Dưới những các trọng chức trên thì có các đô úy, các bách hộ trưởng quản lấy các nhóm nhỏ hơn.
Quân đội cấp nhỏ nhất sẽ được tổ chức thành “Phương Bách Quân” – là một đội hình lập phương cho quân trường thương cực dài tới 15 trượng, được hỗ trợ bởi các cung nỏ thủ và thuẫn quân mang giáo ngắn hơn nhưng có khiên chắn khắp người bảo vệ. Nói rõ hơn thì đội hình hai mặt trước sau sẽ có mỗi mặt là 36 binh sĩ mang trường thương, mỗi mặt sẽ dày 2 hàng, mỗi hàng sẽ có 18 binh sĩ lúc hành quân sẽ cách nhau 8 li; còn hai mặt bên phải trái lại làm khác nữa, vì mỗi mặt đó tuy có tương tự 36 binh sĩ nhưng mỗi hàng chỉ có 9 binh sĩ, bọn họ nằm thọt bên trong góc của trường quân mặt trước sau, mỗi mặt này dài tới 4 hàng. 120 cung thủ và 96 thuẫn quân sẽ nằm bên trong mà bảo vệ lấy trường quân và sẽ tùy cơ tiếp ứng lẫn nhau ở các mặt dưới chỉ huy của 4 bách hộ trưởng và 1 đô úy đứng ở giữa – là các sĩ quan cho cả “Phương Bách Quân” này, tổng cả là 365 quân.
Đối với các quân “Phương Bách Quân” khi dàn trận nghênh địch, ta hãy dàn theo ô trắng đen chéo trên bàn cờ: tức là mỗi “Phương Bách Quân” xen kẽ lẫn nhau, họ dễ dàng tiếp ứng cùng nhau hay khiến cho bên địch e dè khi đối phó với đội hình này. Hai bên rìa cạnh của những quân ấy sẽ cho mỗi bên là 540 binh sĩ chủ yếu là thuẫn quân nhằm điều phối linh hoạt khi cần thiết trong trường hợp cấp bách như trường quân của các quân bị gặp bất lợi chiến đấu ở địa hình khó khăn. Cũng như các đội tượng binh, kỵ binh sẽ ở rìa ngoài cùng tạo thế kìm kẹp quân thù vây các hướng với nhau.
**Thứ ba**, đó chính là lập ra hệ thống thưởng phạt công minh rõ ràng. Chúng ta sẽ tính cả binh sĩ và tướng sĩ cho công trạng của họ, như một binh sĩ bắt hoặc giết được kẻ thù thì sẽ thưởng dựa trên số lượng, càng nhiều thì sẽ thăng cấp và thưởng vàng bạc, họ chiếm được các cứ điểm như tường thành hay gò cao cũng thưởng thăng cấp và vàng bạc. Còn tướng quân sẽ được thưởng thăng cấp và vàng bạc nhưng chiến công của họ sẽ dựa trên chiến công và số quân của anh ta còn tác chiến sau một trận chiến: càng tổn thất càng ít thì càng trọng hơn một vị tướng dùng hết binh lực chỉ vì chiến thắng nhỏ mà gây ra mất mát không cần thiết.
Về phạt, đối với binh sĩ nếu phạm tội nhẹ thì sẽ do chính cấp trên trừng phạt lấy, còn nếu phạm trọng tội thì tùy theo quân pháp do trưởng doanh chủ tọa mà xử; tội đào ngũ thì nên xử đánh đòn nặng và có thể nặng hơn nữa, tội thông gián với giặc thì ta phải buộc xử chết tên lính này để răn đe. Nhưng nếu như tội của binh sĩ có thể khiến cho sự bất mãn của binh sĩ tăng lên do họ còn thương cảm tên tội nhân hoặc vẫn thù ghét, chưa tin tưởng vị tướng trướng trên thì vị tướng ấy nên để cho chính bằng hữu của tên tội nhân này tự xét xử chính tên đó vì ngay cả họ cũng sẽ hiểu hệ trọng của việc vi phạm kỷ cương nặng tới mức nào mà xử thay vị tướng mà thôi. Đối với các tướng lãnh, phạm tội bất tuân hay lơ là không giúp đỡ các tướng khác thì sẽ do chính Bảo Nam Trọng Tướng Quân tự phán xét lấy, nếu gây nghiêm trọng mà tổn thất nặng hay cố tình giúp địch thì sẽ xử nặng không nương tay.
Cho toàn quân thấy rằng không ai có thể thoát khỏi nghĩa vụ, trách nhiệm và công tội của mình cả. Càng cố che giấu thì sẽ càng bị bại lộ, xử phạt càng nghiệt ngã cho chính tên đó mà thôi!
**Thứ tư**, hãy tìm kiếm khắp nơi và từ đó tuyển chọn ra những thợ rèn và kỹ sư lành nghề - họ chính là nền tảng của một quân đội tinh nghệ, có thể dựng thành thang mây, pháo đá công thành cũng như rèn đúc giáp trụ, thương, kiếm, giáo, các mũi tên đồng,… Tuy họ không tham gia vào việc của một người lính nhưng lại vô cùng quý giá cho mỗi trận chiến và sau mỗi trận chiến.
Nên thêm các nhóm người chuyên về chữa bệnh tình, dò xét thám thính mà vẽ các địa đồ trọng yếu, trinh thám, người thông thạo các kỹ năng như bơi lội, trèo núi và băng rừng – tất cả bọn họ cũng như thợ rèn, kỹ sư được chọn lựa bởi quản phu trưởng và quản phu phó nhập vào đoàn phu nhưng với vai trò quan trọng cho toàn quân nhờ sở trường của họ.
Ở mọi tình huống ta nên chuẩn bị cho mọi trường hợp khó đoán và ngẫu nhiên, không thể coi thường vai trò của bất kỳ ai cả - dù họ có chức vị thấp tới đâu.
**Thứ năm**, tạm lập ra các trường võ quan cho tất cả con em và những binh sĩ đã tham gia quân ngũ hơn hai năm. Ta sẽ có các kỳ thi bao gồm đấu kiếm, dùng thuẫn chiến thủ, cưỡi ngựa bắn cung, tập võ luyện chùy, học hiểu binh thư nhằm trả lời các câu về binh pháp đánh trận, ghi nhớ quân lệnh và cách bảo an một khu vực dân cư không quấy nhiễu.
Tuy tại thần vẫn chưa thấy nên thay đổi hay thêm các chức vụ tướng lĩnh cấp cao, nhưng tại thần nghĩ hiện giờ chỉ tuyển các quân nhân thâm niên nhằm huấn luyện trong vòng hai năm, sau đó thêm họ vào các chức quân đạo và hậu cần, khi lúc các tướng lĩnh cũ nghỉ hưu thì thăng cấp bọn họ và tuyển thêm con em ở tầng lớp khác vào trường võ quan.
**Thứ sáu**, lập ra các nhóm thủy quân: cứ 10 thuyền nhỏ và 2 thuyền lớn lập thành một đội để chống cướp biển, bảo vệ tàu buôn, mở rộng ảnh hưởng biển và cuối cùng hậu thuẫn cho các đạo binh trên bộ mà chống địch cùng nhau.
Các nhóm lính thủy đột kích trên bộ nên tuyển chọn từ các nơi có con em ở nhà lâu năm quen với việc bơi lội và lặn sâu điêu luyện – bọn họ là cốt lõi của việc tạo ra thế vây kìm kẹp quân thù từ khắp tám hướng, bốn phương. Cũng phải kỹ càng trong việc tuyển các phu chèo thuyền, mỗi nhịp chèo là mỗi lần quyết định xem con thuyền đi đúng hướng hoặc đi lệch hướng hay không.
Thuyền nhỏ mang tính đổ bộ chiến lược hoặc khi đương đầu với kẻ thù trên biển thì sẽ dùng cung thủ tiêu hao quân địch bên kia chiến thuyền; sau đó ta dùng thuyền lớn với hỏa công và pháo đá diệt hoàn toàn thuyền của địch – hãy tránh áp sát để đánh giáp lá cà với địch trừ khi quân ta thực đông và vượt trội hơn phía địch.
Muốn đánh địch từ phía Bắc thuận lợi thì chờ tháng có gió Nam, còn từ phía Nam thì nên chờ tháng có gió Bắc – bởi vì nếu đánh trái mùa, bộ - thủy khó hợp với nhau như đã kỳ vọng. Khi tiến vào lòng sông của phe địch, ta luôn phải quan sát, cho đội thuyền nhỏ đi trước nắm bắt tình hình thì mới định đoạt tiếp, không hiểu về địa thế thì nên tránh xa.
Khi mở rộng đội thuyền thì phân cấp càng rõ như quân trên bộ, tránh tình trạng binh sĩ thủy chiến phân tán – mỗi đội chỉ chịu nghe theo một đội trưởng mà hỏng việc. Tránh giáo bão, neo đậu chiến thuyền trong vịnh hoặc cửa sông đủ che chắn tốt. Còn khi lỡ trôi dạt vào địa phận địch do bất lợi thời tiết thì đừng hãy hoảng loạn mà gây thất sách, ta nên lập rào, chắn tường tạm thời – tức là dựng trại tạm để phòng thủ trước địch và chờ tiếp tế từ các nhóm thuyền hoặc binh bộ.
**Thứ bảy**, về việc lập trại thì ta hãy xem xét kỹ, do việc này cần dựa vào nhân lực rất nhiều và tổ chức phải hoàn mỹ nhất có thể vì các trại ấy có thể xây dựng ngay trong tâm địch, vô cùng nguy hiểm. Đối với riêng bộ binh, việc lập trại ở đất chính mình hoặc đất kẻ thù là khác nhau: vì nếu lập trại ở đất mình thì nên xây dựng tốn ít tài lực, nhân lực hơn nhưng đối với xây trại ở trên đất kẻ thù thì phải vô cùng kiên cố và phòng thủ kỹ để không tên nào lọt vào được.
Thường khi xây dựng trại, ta phải dựng nó ở một vùng đất cao ráo, bằng phẳng, tránh xa các khu rừng bất định khó đoán nhằm đảm bảo không có phục binh từ bìa rừng đánh dồn dập ra, cũng nên dựng trại cách nguồn nước không xa, nếu địch vây khốn thì còn kịp lấy đủ nước dùng. Bên ngoài trại thì ta nên đào sâu các hào hơn 10 trượng, thêm các gai gỗ, cọc thép nhằm tiêu hao quân địch ồ ạt đột phá trại. Ở các cổng thì xây thêm một cổng bên ngoài theo đường cung để cho cung tên bên ta bắn giết nhiều địch có thể, các cọc gỗ bên ngoài làm nền cho các ụ đất nện bên trong – giúp cho binh sĩ leo lên thành ụ dễ dàng và nhanh chóng, họ cũng có thể rút lui sau thành ụ cao khi cần thiết.
Về việc bố trí trại bên trong, ta nên lập các tháp canh ở các cổng, bên góc bên cùng các mặt tường thành và ở trung tâm – là nơi các tướng quân có thể quan sát, động viên và chỉ đạo chống lại sự đột kích, vây hãm từ bên đối phương. Các lều trại lính nên một nửa nằm gần các ụ thành, binh sĩ nơi đấy cứ ba phần thì một phần phải thức đêm canh gác, luân phiên nhau nhằm đề phòng địch đột nhập ban đêm. Nơi ở của đội phu, tù nhân, gia đình binh sĩ, trại kho, quân như phải cách nhau vừa đủ để tránh việc hỏa hoạn bất ngờ ập tới, cho nên sử dụng bao cát và nguồn nước dư dã, đặt chúng ở các nơi ấy.
Sau khi tiếp tục hành quân dời bỏ trại thì nên phá hủy hết tất cả để không cho quân địch tận dụng, còn nếu muốn giữ thì hãy lưu thủ vài quân tốt ở lại. Quân của một doanh thì nên dựng trại hình lập phương mỗi bên là trên hai ngàn trượng, đó là một cụm chiến đấu độc lập vậy.
**Thứ tám**, để chống việc phục binh khi quân ta hành quân ở các nơi buộc phải qua, thì quân ta nên có các đội kỵ trinh sát phía trước và phía sau đảm bảo tầm nhìn tốt, còn đội phu chở đồ nhu phẩm và lương thực nằm ở giữa các hàng binh sĩ, khiến quân địch khó lòng thực hiện tập kích như mong muốn. Khi địch quá đông mà ồ ạt tấn công khắp nơi, quân ta nên lập thành phương trận lớn, trường quân và thuẫn quân bảo vệ cung thủ, dân phu và các tướng sĩ – đó là giúp cho quân tâm sĩ khí không bị hoảng loạn khi bị dồn vào thế bất lợi.
Sau khi quân địch bị tiêu hao nhiều thì lập tức cho các đội kỵ binh tiên phong đi trước quan sát xem địch còn đủ binh lực hay không, nếu không thì cho toàn quân tiến lên phía trước. Kỵ - bộ tiên phong hậu bộc đoàn xe phu đi phía sau mà mở đường thoái lui, còn bộ binh và kỵ binh còn lại giữ vị thế chặn địch đuổi theo phía sau mà rút từ từ ; tuy sẽ gây tổn thất nhưng là điều cần thực thi nhằm bảo tồn toàn quân. Còn nếu quân địch vẫn còn đông thì hãy động viên binh sĩ quyết tử, giữ vững đội hình cho đến khi chúng bị tiêu hao rất nhiều mà phải rút chạy, mở con đường sinh cơ cho quân ta.
**Thứ chín**, cả việc phòng thủ và vây thành là cấp bách khi muốn quản lý một khu vực, cho dù nó tốn hao cực kỳ nhiều về nhân lực và vật lực. Khi ta ở thế phòng thủ, phải tích trữ đầy đủ lương thực đủ cho trên một năm, hai năm. Thành quách phải đặt xung quanh chông, đào hào nước đủ sây để khó kẻ nào bơi qua nổi.
Phải luôn khích lệ tinh thần sĩ tướng, bách dân trong thành, không để họ suy sụp tinh thần. Luôn kiểm tra bất cứ ai trong thành có dấu hiệu của nội gián, hãy dùng chính kế ly gián nhằm hao mòn kẻ thù cùng một lúc nếu có thể. Không được để kẻ địch có thể chặn đứng hết đường ra vào hậu ứng cho ta, tập kích trại địch lúc chúng lơ là càng tốt.
Còn khi ta ở thế là kẻ công thành, thì việc chặn hết đường lối ra mà bọn thủ thành có thể dựa vào là điều chắc chắn ghi tâm: nếu không thì chúng dựa vào đường mật ấy mà liên tục nhận tiếp tế đòi chi viện, gây hao tổn cho quân ta rất nhiều.
Đề phòng chi viện của phe địch tấn công trại của ta, vậy nên ta nên dựng thêm hai vòng thành ụ đất nhằm bảo vệ chính mình và siết chặt việc chiếm lấy thành. Chỉ nên cho lính xông phá thành khi lương không đủ cho chinh chiến hoặc áp lực từ chi viện của địch quá nặng. Một vị tướng am hiểu vấn đề sẽ cố gắng khích lệ binh sĩ rằng ai lên được đầu thành hoặc mở được cổng thành đầu tiên thì sẽ được thăng chức, trọng thưởng cho họ. Ta có thể dùng cả nội gián để hạ thành thì càng tốt, vì đó sẽ giảm thiểu tổn thất của quân ta.
**Thứ mười**, sau mỗi cuộc chiến hãy dựng lấy đàn tế vong hồn chiến sĩ với đất trời để tạ lỗi với Trời vì làm tanh hôi thế gian này cũng như tri ân với những vong hồn tử sĩ đã phục cho quân đạo anh dũng này. Cũng lập nên góa phụ xá và cô nhi xá cho những gia đình có người tử nạn vì quốc, những người này sẽ nhận trợ cấp, phúc lợi từ nhà nước. Dựng mộ và đền thờ các chiến sĩ này sau khi chiến tranh kết thúc.
Đó là mười điều cốt yếu mà tại thần xin gửi đến các chư vị để dựng quân chiến đấu giỏi, lính dũng cảm mà không sợ chết. Binh sĩ ấy đi tới đâu thì thắng tới đó cả. Thần xin gọi các điều đó là “Thập sách binh lược” mà tất cả quân sĩ đều phải hiểu qua cả!”
Tất cả mọi người đã chấn kinh và trầm ngâm nghĩ ngợi, bởi đề nghị cải tổ quân đội của Thống Sư hoàn toàn phá cách mọi quân đạo đã từng áp dụng từ xa xưa đến nay, ngay cả thời huy hoàng của Hỗn tộc cũng chỉ dựa vào quân của các lãnh chúa và sức chiến đấu phi thường của họ đẩy lui quỷ tộc mà thôi. “Thập sách binh lược” này vừa đột phá vừa lại phải huy động tài lực vô cùng to lớn, ngay cả ngân khố của Đại Cô cũng sẽ ngại dám chi ra để cải tổ như vậy.
Nhưng với Lê Uýnh – một người vốn đã có tích lũy gia sản từ rất lâu và chờ thời kỹ, thì canh bạc cho cải tổ này là không thể không làm dù nó hao tốn của cỡ nào, ông mang một nụ cười nhẹ đáp lại vị quân sư ấy rằng:
” Tiên sinh thực sự quả có lời sắc bén, dõng dạc và sâu sắc. Ta biết những kế sách tiên sinh đã liệt ra không hề dễ dàng thực hiện do khả năng nguồn lực và tài lực của xứ Nam có hạn, nhưng tiên sinh đã hiến kế này thì tụi tôi sẽ dốc hết dòng trợ lực giúp lấy tiên sinh thành nên cải tổ này!”
Dương Lâm cũng đáp lại:
” Tôi đây xưa giờ chưa nghe điều nào hay như những thứ tiên sinh đã nói hiện nay, cha tôi là huyện lệnh (tức là Dương Kiên) cùng với tôi sẽ lấy mọi gia sản hậu thuẫn cho tiên sinh!”
Nguyễn Tư cũng quyết tâm như các bằng hữu đã quyết tâm, ông cũng đáp cùng:
” Mọi thứ tiên sinh cần tôi sẽ tận lực tới cùng!”
Cảm kích bởi lòng trợ lực của các bằng hữu ấy, Thống Sư tạ lễ rằng:
” Cảm kích các chư vị đã hứa như thác cao đổ nước cho dòng sông, tại thần sẽ cố không phụ lòng tốt của các chư vị. Chúng ta sẽ giành lại toàn Lâm Nam nội trong hai năm, đánh đuổi Sở tặc khỏi xứ Nam!”
Sau này, “Thập sách binh lược” của Thống Sư là kim chỉ nam cho mọi giới tướng lĩnh khắc tâm học thuộc trước khi cầm quân ra trận chiến. Và nó là cốt lõi của cải cách quân sự Lâm Nam, khiến cho quân nước nhược tiểu cường thịnh lên.
Chú thích:
[1] Sau kỷ thứ nhất, rất nhiều ngôn ngữ được hình thành bởi do các tộc người tách nhau xa. Trong đó hệ ngôn ngữ ở Trung Nguyễn gần gũi với nhau nhất, chia thành ba hệ ngữ nhỏ hơn:
+Tiểu hệ ngữ Bắc (phía Bắc sông Chanh).
+Tiểu hệ ngữ Nam (gồm các đạo Cách, Vân Nam, Phương Giang và Hồ Nam)
+Tiểu hệ ngữ ngoại sơn (gồm các đạo Tiến Nam, Lâm Nam và Loan Đông)
Mỗi đạo có mỗi ngôn ngữ riêng, thậm chí có nhiều ngôn ngữ trong một đạo Hồ Nam như tiếng Ngô, tiếng Hồ và tiếng Hồng cùng nhau tồn tại trên vùng địa lý riêng biệt, ngăn trở bởi núi và sông.
Kể từ nhà Xương thống nhất Cựu Đạo thì hệ ngữ Đà ở đạo Hà Tây thông dụng mạnh cho chính quyền Trung Nguyên, dù các biến thể địa phương có ở các đạo khác phù hợp với cách nói nơi đó.