Chương 4: Hậu Sở tấn công Lâm Nam

Cả Trung Nguyên lúc này hoàn toàn rơi vào loạn lạc, cát cứ khắp nơi, các tiểu vương, hào tộc, quân phiệt chém giết lẫn nhau. Cùng lúc đó, kỵ binh Rợ Bắc đột kích quấy nhiễu biên cương ở các đạo phía Bắc Trung Nguyên, quân của triều đình Đại Cô do Vũ Kiến Cát giữ vững trước các cuộc xung kích phá vào các ải khiến cho quân nước Rơ khó lòng vượt qua. Nhưng vào mùa xuân năm 1908 (tức là năm thứ 12 của đời Diên Xương), tiểu vương ly khai ở đạo Sóc Bắc là Khang Trương Nhĩ không chịu nổi các cuộc đột kích của Rợ Bắc, dẫn đến thất bại ở trận Lan Bông ngoài thành Sóc: 4 vạn quân Sóc Bắc phao lên là 38 vạn thua trước 3 vạn kỵ binh thảo nguyên do thủ lĩnh nước Rơ là Hát Nhị Tâm đột phá cánh trái trận hình. Nhị Tâm đem 5 ngàn khinh kỵ tinh nghệ tới chủ doanh nước Sóc mà đâm chết Khang Trương Nhĩ, từ đó quân tâm của Sóc Bắc hoang mang mà tự khắc tan vỡ, binh lính bỏ chạy mà để cho kỵ Rợ Bắc tha hồ chém giết thoải mái tùy thích. Tới tháng 10 năm 1909, toàn đạo Sóc Bắc bị mất vào tay nước Rơ khiến cho trăm vạn dân bị nô dịch cho Rợ Bắc (và là địa bàn tiền phương cho thế lực phục tùng Vô Hương sau khi thoát khỏi phong ấn); từ đó là địa cứ để quân thảo nguyên có thể quấy phá Trung Nguyên trong thời kỳ chiến loạn này, và cũng như lần đầu tiên trong hàng ngàn năm có một thế lực từ phương Bắc nhập vào vùng đất trù phú rộng lớn như vậy. Còn nước Trương thuộc đạo Hải Tây cũ, vua nước ấy xưng bá bằng cách dùng sức mạnh giao thương với các nước Thiên Trúc và Viễn Tây xa xôi, chiếm được một nửa Hải Tây[1] - một hồ nước lớn nửa mặn, nửa ngọt nội thủy sâu trong đất liền. Đất nước Trương cũng vô cùng màu mỡ, hơn cả các đạo Hà Tây, Lũng Tây và Hà Đông bởi ba mặt đều là nước, dân chúng cũng rất là sung túc tới nổi mỗi nhà đều lợp mái ngói lưu ly màu xanh trời – biểu tượng mà mọi vương công ở Trung Nguyên thèm khát, còn ăn uống thì tuần nào cũng ăn thịt cừu muối và bánh mì bơ tỏi – thứ mà chỉ dành nhà khá giả trở lên ở Chánh Đô mà thôi. Về quân sự thì đạo Hải Tây cũ thua đạo Lũng Tây và nước Yên (Lâm Bắc cũ) nhiều bậc nhưng lại có thực lực để thuê các quân binh từ phía Tây như: kỵ hạng nặng từ Thiên Trúc, tàu chiến phun lửa từ Vực Tây (ở một nước tên là Đan Tở - cũng là nước lớn ngang với triều trên ở Trung Nguyên) và các đội tượng binh từ đế quốc Gò Xung. Ít ai dám khiêu chiến với nước Trương bởi nó là trung tâm mậu dịch, là nơi tiếp nhận mặt hàng xa xỉ từ Vực Tây, Thiên Trúc đã tạo nên một vị thế người trung gian vô cùng độc đáo. Nước Yên của đạo Lâm Bắc cũ là do một quân phiệt tên là Đồ Nhĩ Căn – con lai giữa cha là người Cảnh Lư và mẹ người Rơ (Rợ Bắc) mà sinh ra, hắn đã dần dẫn dắt cả đạo ly khai khỏi Đại Cô. Ban đầu vị tiểu vương trước hắn là Công Hương vẫn trung thành với triều trên, nhưng sau đó Đồ Nhĩ Căn làm phản, đem hơn ba ngàn kỵ binh (có sự hỗ trợ từ người Rơ) mà giết chết vua cũ, hắn tự xưng là Đại Vương Chi Chủ Phương Bắc, một thế kiêu hùng cả Đông Bắc. Thế lực và quân đội nước Yên đứng nhì phương Bắc Trung Nguyên nhưng do người ít mà đất rộng, các tộc không phục kẻ cướp ngôi nên đã làm loạn liên miên, khiến cho quân Yên vất vả dẹp loạn và khó tranh bá ở Trung Nguyên với Đại Cô nổi. Nhưng không thể coi thường nước Yên vì vào mùa hè năm 1911 thì quân Cảnh Lư do Lý Chung Chính đem ba vạn và năm ngàn kỵ binh sang đánh nước Yên nội loạn mà bị bốn ngàn kỵ binh do Đồ Nhĩ Sư – con của đại vương nước Yên, đánh tan tác quân Cảnh Lư và bắt sống Lý Chung Chính. Lý Chung Chính phải quy phục trước vua Yên, cống nạp hàng năm để giữ mạng sống – dù trớ trêu thay rằng thế lực Cảnh Lư vô cùng mạnh mẽ, tiềm lực đông đảo như một đạo Tân La nhỏ bé thuộc Cảnh Lư có dân cư đông hơn cả nước Yên. Sau trận thắng Cảnh Lư, Đồ Nhĩ Sư được xem bách chiến tướng, thuộc vào các danh tướng của Trung Nguyên sánh cùng với gia tướng quân Vũ Kiến Cát. Đạo Lĩnh Đông do tiểu vương là Khương Bạch tự ly khai nhưng bị quân của Vũ Kiến Cát đánh bại một cách nhanh chóng, cả nhà họ Khương bị bắt về Chánh Đô giam giữ và giáng cả họ xuống làm thứ dân đời đời. Đạo Lĩnh Đông bị hủy bỏ chức tiểu vương, thay vào đó là chức Đô đạo do triều đình tiến cử tới, tạo dần cho mầm móng của chế độ quan lại từ đây. Hào môn thuộc châu Tế là Khổng Trực được tiến cử làm quản chức Đô đạo chánh tam phẩm, nhờ vào công lao giúp đỡ triều đình bắt giữ gia tộc họ Khương. Các tộc ở Loan Đông hợp tác với Hồng Qua để ly khai khỏi Đại Cô, rất nhiều vũ khí đi từ biển hỗ trợ giúp hòn đảo tách biệt khỏi Trung Nguyên về mặt chính trị. Tộc trưởng ở phía Nam tên là Trạch Ôn – đứng đầu tộc Loan, dựng đô ở Loan Nam. Loan Nam trở thành trung tâm của nhà nước liên minh bộ lạc này, thành tuy quy cách không lớn bằng các thành ở Trung Nguyên nhưng lại có mức độ buôn bán tấp nập, hàng hóa thứ nào cũng có bán cả và mở ra các hội quán của người Hồng Qua, Hậu Sở, Nam Hải, Thiên Trúc định trú và lập gia đình. Nhưng ra khỏi Loan Nam thì khắp nơi đều là những ngôi làng lợp mái lá thấp, rừng rậm khí chướng độc khắp nơi và nhiều bộ lạc ở rìa núi phía Đông đảo không bao giờ thần phục triều đình ở Loan Nam. Hòn đảo này chẳng khác nào trong tình trạng nửa văn minh, nửa man di đối với bên ngoài, ngay cả một thương nhân người Hồng Qua phải thốt lên:” Một vùng đất bán khai này, thực sự khó mà sinh sống khi ra khỏi đô thành của nhà vua xứ ấy!”. Trạch Ôn phải liên tục chinh phạt các tộc không phục mình ở phía Đông đảo, nhưng do chính ông ta thực thi chính sách tận diệt tộc chống đối quá tàn bạo mà nửa hòn đảo không thể nào thống nhất nổi. Còn về nước Hậu Sở thì ban đầu là một nước do họ ngoại của đại vương Đại Cô nắm có ý muốn dựa vào thế lực địa phương hùng mạnh phương Nam Trung Nguyên mà dần tích lũy để có thể tấn công thế lực của trung thần Vũ Kiến Cát nhưng vào năm 1905 thì bị thế lực quý tộc ở Phương Giang do Hạng Danh đứng đầu lật đổ, tự mình làm vua xưng là Bá Vương. Hạng Danh sau đó dẹp loạn các lực lượng chống lại hắn ở đạo Hồ Nam và Vân Nam trong vòng 6 năm ròng rã và đánh bại hoàn toàn các tiểu vương ở đó. Bá Vương Hậu Sở là một chiến binh xuất sắc, hắn ta cho đến lúc này chưa từng có thua một trận nào cả, một mình hắn có thể chọi hơn 30 người cùng lúc trên lưng ngựa mà không nản, thậm chí càng đánh càng hăng, càng thích thú hơn. Nhưng Hạng Danh lại gặp khó khi đối đầu với lại Vũ Kiến Cát: hai bên đánh nhau lưỡng bại câu thương, không ai chịu nhường ai suốt 3 năm nhưng kết quả lại là không phân thắng bại dọc sông Chanh. Ai cũng muốn giành áp đảo trước đối phương nhưng đều không đạt bất kỳ lợi thế nào. Vậy cho nên Hạng Danh tạm đình chiến với Đại Cô và hướng trọng tâm tới Lâm Nam, theo sự đề nghị của Phạm Tùng – mưu sĩ già của hắn vào một đêm tối trong cung, Phạm Tùng đã nói rằng: “Bệ hạ, thần thiết nghĩ bệ hạ nên dốc toàn lực tấn công đạo Lâm Nam – vốn do tiên tổ ta thu phục nhiều đời về trước…” – Phạm Tùng nêu về ý định chiếm lấy Lâm Nam cho Hạng Danh nghe – “…bởi một phần chính danh triều ta, một phần Đô đạo nơi ấy là Khúc Thừa Lan lại không phục chúng ta, đi theo phục tùng nghịch Cô, phần nữa là do tài phú Lâm Nam vô cùng nhiều kể siết, lấy được nó sẽ giúp chúng ta đủ lực tiếp đánh Vũ Kiến Cát một lần nữa. Ta phải đánh nếu không đây sẽ là mối họa về thiếu nguồn lực cho Sở triều ta cũng như tiềm tàng nguy cơ hậu phương tấn công từ phía sau, mong bệ hạ anh minh dụng theo ý nhỏ của mọi thần!” “Nhưng ta không có hậu thuẫn từ bất kỳ thế lực ở Lâm Nam thì làm sao có thể chiếm được chứ? Mong tiên sinh chỉ giáo giúp ta hiểu rõ hơn nữa” – Hạng Danh thắc mắc một cách mơ màng vì hắn không rõ địa thế Lâm Nam, phần nữa vì thiếu nội ứng nên không dám chắc có đạt được thành công hay không nữa. “Xin bệ hạ chớ lo” – Phạm Tùng tiếp lời, kể lại một thứ quỷ kế để chiếm lấy Lâm Nam chính danh – “Thần đã liên lạc với Nùng Trù Lăng – là một tên thuộc nhánh tiểu hệ của đại tộc Nùng – đứng đầu có người làm Tổng Châu của châu Lạng; tên Lăng này sẽ làm nội ứng cho quân ta và khi quân ta tấn công hội quân của họ Khúc thì chính tên Nùng Trù Lăng này sẽ mở cánh sườn cho bệ hạ anh dũng đi lên phá tan quân địch. Từ đó mà cả Lâm Nam đệ nhất gạo tiền phương Nam có thể để bệ hạ chính danh tùy ý sử dụng, và tiến gần tới đánh bại quân của Vũ Kiến Cát, thống nhất Trung Nguyên một lần nữa dưới lá cờ Sở triều” “Thuận theo ý của đại lão tiên sinh vậy, ta mong chờ ngày tôn làm bá chủ Trung Nguyên trở lại sẽ rất gần!” – Hạng Danh thích thú mà trả lời dứt khoát, cảm thấy kế sách của Phạm Tùng đều đầy tinh ý, có lợi mà không hại. Đầu tháng ba năm 1916, Hậu Sở do Bá Vương Hạng Danh dẫn đầu đem hơn 6 vạn quân tự phao là 45 vạn quân đi đánh Lâm Nam. Bọn chúng nhân danh chính thống nhà Sở xưa mà lấy lại đất cũ, ép Lâm Nam phải quy phục trước Bá Vương. Ải Nam Dương do Phùng Tôn giữ cùng ba ngàn thủ quân đáng lý ra chặn được địch vài tuần do địa thế hiểm trở; nhưng Nùng Trù Lăng gửi địa đồ cho Phạm Tùng và Hạng Danh có một mật đạo đánh úp mà phá thế hiểm. Hạng Danh cử du kích tướng quân là Phan Hoài đem năm ngàn tinh binh đi phía sau bằng mật đạo đánh úp, còn tự mình Bá Vương cứ dùng quân chính đánh trực diện để nhử địch nghi binh. Kế ấy thành, Nam Dương Ải bị hạ mà bắt sống Phùng Tôn cùng hai ngàn thủ quân. Hạng Danh cố quy hàng vị thủ ải Nam Dương nhưng nhiều lần không được lệnh chém cả tù quân, sau dẫn đại quân đánh thành Giang Hiên cách 398 dặm về hướng Tây Nam. Tin xấu được truyền về đến hành phủ Đô đạo của Lâm Nam – tức là ở Lân Nội, sau ba ngày. Thủ phủ Lân Nội lúc này dân chúng, quan lại hỗn loạn vì chưa từng có quân ngoại bang nào tiến vào nội địa Lâm Nam trong hơn 400 năm trở lại đây, lại còn đem đại binh đông hùng tướng như đi chinh phạt vùng đất xa xôi hơn là đi trừ phạt nội loạn. Người đứng đầu là Khúc Thừa Lan, vốn kế thừa chức Đô đạo từ cha là Khúc Thừa Dũng. Cha con họ đã cai trị chính danh Lâm Nam giúp triều trên tổng hơn 14 năm, tính từ loạn ngoại thích. Khúc Thừa Lan tuy là người nhân hậu, ông dùng chính sách yên dân trị của Hòa phái và khuyến nông sản xuất nhưng ông không hề có xây dựng quân đội hùng mạnh để chống lại ngoại bang; toàn bộ gia binh họ Khúc chỉ có hơn năm ngàn dũng sĩ, còn lại binh lực cả đạo đều dựa vào huy động lực lượng từ 4 châu, 14 huyện do các tổng châu và huyện lệnh huy động lấy. Khúc Thừa Lan bèn lúc nguy cấp hỏi phó Đô đạo là Dương Lâm – là con trai của huyện lệnh Dương Kiên của Hải Lô thuộc châu Lâm, rằng: ” Ngài nghĩ ta nên làm gì để chống cự quân Sở tặc đây?” “Thần chỉ có một kế” – Dương Lâm đáp khấn khẩn – “là tử thủ Lân Nội, chờ quân tiếp viện từ các châu, các huyện về mà hao mòn và đánh đuổi đám Hạng Danh, Phạm Tùng. Quân ta không nên nghênh địch trực diện mà đánh quy ước vì ấy khiến cho địch có cơ hội đột vây mà phá tan, vả lại quân Lâm Nam của chúng ta không đủ và thiếu kinh nghiệm; Hạng Danh là một kẻ mạnh mẽ, mình hắn chém hơn 10 tên cùng lúc, khó đương đầu ở sa trường. Nhưng phủ Lân Nội được bao bởi hồ Thiên Hoàn, để Hạng Danh là hổ cho hắn bơi qua sông, quả thực là cực hình cho Sở tặc. Mong Đại Đô chi chủ đừng đánh ra khỏi thành, chờ viện binh nay mai sẽ tới cùng nhau phá tan địch suy kiệt!” Lời của Dương Lâm rất hợp lý, hợp tình với Khúc Thừa Lan nhưng chưa kịp nói chuẩn theo ý của vị phó Đô đạo thì một vị khác là Trại thủ tướng quân tên Vương Tâm phản đối cực liệt:” Xin Khúc đại nhân suy tính kỹ, bởi nếu co rút thủ thành mà không chịu ra đánh thì sĩ khí quân ta bị đả kích mạnh, tự rệu rã mà không chống nổi uy thế của Sở tạc được. Mạt tướng xin toàn quân Lân Nội ra Đông Hoàn – cách thành Lân Nội 120 dặm về phía Bắc ở gần bờ hồ mà quyết chiến một trận với giặc, cùng lúc đó truyền 'Hịch Toàn Chiến' mà kêu gọi 4 châu đem gia binh của mình ra trợ lực cho Đô đạo chi chủ. 6 vạn quân Sở sẽ mất hơn 20 ngày mới tới doanh trại dự kiến của chúng ta, nên đóng cọc thủ thành là dư sức. Dùng cả ba mặt trận địa mà làm thế thủ, có mặt hồ ngăn cản địch tập hậu phía sau; và nếu trắc trở thì chúng ta có thể dùng thuyền thoái binh về Lân Nội mà thủ. Đôi đường đều thuận lợi mà vẫn giúp sĩ khí có thế đánh vài trận lên cao trở lại. Mong đại nhân thuận theo lời của tiểu tướng này!” Khúc Thừa Lan thấy lời của Vương Tâm lại phù hợp để gây dựng ý chí binh sĩ hơn, vì dù sao thì co rút thủ thành chẳng khác gì con gà chạy trốn nên ông thuận theo lời của Vương Tâm cho dù Dương Lâm khuyên can ra sao về thực lực quân sĩ và sự xảo nguyệt của Phạm Tùng. Nhưng chính Vương Tâm là kẻ đã bị Nùng Trù Lăng mua chuộc với lời hứa là hắn sẽ làm phó Đô đạo, còn Nùng Trù Lăng sẽ là Đô đạo phục tùng Hạng Danh – là con chó săn cho Hậu Sở. Kế hoạch đem quân ra Đông Hoàn để diệt quân Lâm Nam là do Phạm Tùng chỉ lấy cho Nùng Trù Lăng, khi mà quân Lâm Nam đánh thua mà định chạy qua phủ Lân Nội thì phản gián từ các thuyền do Vương Tâm chỉ huy ngăn chặn chính quân “mình” để Hạng Danh một lần tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xứ Nam, từ đó mà chiếm cả đạo không tốn sức. Ngày 5 tháng ba, Khúc Thừa Lan đem hơn năm ngàn dũng sĩ cùng với tám ngàn quân do thế lực địa phương châu Lạng và châu Giao tiếp ứng; bọn họ dựng nên lũy đất ở Đông Hoàn hòng chống cự Sở tặc. Việc dựng lũy này mất hơn 10 ngày mới xong, lũy mặt hướng ba phía, sau là bến bãi thuyền bảo vệ đường tiếp hậu từ phủ Lân Nội. Ngày 17 tháng ba, các quân từ hào tộc, thế gia địa phương ở các châu phía Nam đến mang theo 13 ngàn bộ binh, 2 ngàn 500 kỵ binh và 50 thớt voi. Tổng binh lực của Lâm Nam lúc này gần 3 vạn quân – bằng nửa quân Hậu Sở nên vị Đô đạo chi chủ cũng có phần tự tin ít nhiều so với trước nếu như cố thủ lũy mà hao mòn địch. Nhưng thực tế quân Lâm Nam hội binh thì binh sĩ không đồng đều về khả năng chiến đấu, mà vả lại huy động một cách hấp tấp cỡ vậy nên trình độ, sĩ khí của quân sĩ cũng kém nhiều bậc so với quân Hậu Sở. Lũy Đông Hoàn chia thành 4 quân: trung quân do chính Khúc Thừa Lan chỉ huy, với hơn 1 vạn quân từ châu Giao và châu Lạng; tả quân do Nùng Trù Lăng và hắn chỉ huy 7 ngàn quân, chính hắn sẽ mở cửa tả trại cho địch tập kích sau này; còn hữu quân do Ngô Huyền – con của Ngô Khởi quản thúc với 7 ngàn quân, cuối cùng hậu quân do Vương Tâm cùng với 200 chiến thuyền lớn nhỏ bảo vệ lấy phía sau. Trung, tả, hữu quân đều giữ lấy lũy thành đắp bằng đất, mỗi trại quân đều có cổng giữ thủ nhưng sau lũy thành thì lại không có bất kỳ lũy tre nào ngăn cách giữa các trại nếu có phản trắc, trừ lũy của hữu quân. Bởi Lê Uýnh và Nguyễn Tư khuyên Ngô Huyền dựng thêm một lũy đất xung quanh hữu trại, và một lũy tre bao quanh các cổng: nếu như địch mà phá được một trong ba trại, xông đột vào bên trong thì còn có hữu trại cầm chân địch cho hai trại kia thế phản kích. Dù sao cả Lê Uýnh và Nguyễn Tư đều hiểu rằng, trận địa này dàn sẵn ra cho quân Bá Vương Hậu Sở giành chiến thắng; không thể bàn cãi do quân Đô đạo dẫn dắt thiếu tổ chức và không đủ lực chống cự nổi lực lượng chinh chiến hơn chục năm của Hạng Danh nên chỉ có thể bất đắc dĩ mà cầm chân và sau đó thu binh khỏi Đông Hoàn. Cũng vì một phần Cự Tiên nhắn nhủ tới Lê Uýnh xứ phải loạn thì cả Lâm Nam mới thống nhất được nên không khuyên can Khúc Thừa Lan và vả lại cho dù có khuyên can, van xin vị Đô đạo chi chủ thì cũng như nước đổ lá gai do tính cách của chủ thống soái toàn quân một khi đã quyết thì rất là khó đổi dời, ngay cả quân sư Dương Lâm đành chịu mà xin từ chức phó Đô đạo. Ngày 21 tháng ba, quân Hậu Sở đã tới trước lũy thành Đông Hoàn cao chừng 15 trượng – tuy làm bằng đất nhưng bên ngoài còn cắm thêm cọc tre, hố đất chống lại kỵ binh và đá tản nhằm tiêu hao binh lực của Bá Vương nếu dám cưỡng vây lâu dài. Nhưng quân của Hạng Danh chờ thêm 10 ngày nữa mà không đánh, tới ngày 2 tháng tư mới đêm lẻn quân vào ban đêm bí mật công kích hữu trại. Dẫn đầu đám này là Phan Hoài – là Trọng Nam tướng quân của Hậu Sở, hắn đem hơn 14 ngàn quân tấn công hòng chặn đường lui của quân Lâm Nam. Nhưng quân Nguyễn Tư phát hiện sớm nên đã báo động toàn hữu trại, 2 ngàn quân của ông bật dậy vào vị trí phòng thủ, người đều cầm cung bắn nỏ tiễn xuống phe địch. “Ai báo động bọn chúng vậy? Đáng lý ra lúc này bọn Lâm Nam phải ngủ mê vì khinh địch cả đám rồi chứ?” – Phan Hoài chửi hét, la lớn trước quân hắn vì nghĩ có nội gián trong hàng ngũ. “Ha ha ha… các ngươi nghĩ bọn ta sẽ chờ bị động vậy sao hả?” – Nguyễn Tư kịch phúng đáp lại một cách thản nhiên –“ Giờ sau lưng các ngươi có tượng binh và kỵ binh ta phục kích cả rồi, hãy mau đầu hàng để giữ mạng đi!” Sau đó cách hơn 10 dặm đằng sau lưng quân Sở tặc có hơn 1 ngàn 500 kỵ tốt và 40 thớt voi ồ ạt tấn công địch, điều này khiến cho quân Hậu Sở sợ hãi tột cùng. “Khốn nạn, ngươi tưởng bọn ta dễ dàng chết ở đây vậy sao?” – Phan Hoài tức giận mà không nghĩ nhiều nữa, bèn quát lớn quân hắn đang khiếp sợ phải tiến lên phá lũy –“ Mau tiến lên! Các huynh đệ của ta! Ai giết được tướng giặc trên lũy đang ngông cuồng đe dọa chúng ta trước mặt này, kẻ đó sẽ được thăng một cấp và thưởng ngàn lạng bạc! Xông lên huynh đệ!” Đội quân đột kích của Phan Hoài miễn cưỡng tiến lên, lũ lính vượt qua chông gai, bẫy hố và rơm lửa của bên đối phương mà tiến lên đẩy theo máy công cửa. Hàng lớp quân Hậu Sở liên tiếp nằm xuống hố gai, số binh chỉ còn lại hai phần ba lực lượng ban đầu, chúng ráng gượng đẩy lăn bánh xe công cửa tới công thành, đập đổ hoài chưa mở nổi. “Bắn tiếp cho ta! Diệt chết Sở tặc ác ôn!” – Nguyễn Tư cũng hét lên, có ý muốn giữ cổng thành, bằng mọi giá không để nó bị phá. “Lẹ lên, đập nát cửa thành! Hãy đập nát cái cửa chết quỷ này để xem tên giặc kia còn kiêu ngạo nữa hay không!” – vị Trọng Nam tướng quân quay phía sau cũng lệnh rằng:” Còn quân phía sau, cố gắng giữ chân lũ tạp nham đánh lén!” Phan Hoài lúc này chỉ quan tâm tới việc phá cổng thành và giết chết Nguyễn Tư mà thôi, vì khi hữu trại bị phá thì sau đó Phạm Tùng sẽ ra tín hiệu cho Nùng Trù Lăng mở tả trại ra, nắm gọn toàn quân Lâm Nam trong rổ; cuối cùng lập công thắng địch vang vội ở phía Nam xa xôi. Nhưng khi lính Hậu Sở phá tan cổng thành thì họ thấy phía trước cửa toàn là bãi tre chắn ngang xung quanh đường đi, không ai dám tiến lên cho đến khi Phan Hoài kêu:” Ai không lên sẽ chém đầu!”, vài tên bắt đầu cắn răng mà đi. Thì đột nhiên có chừng trăm mũi tiễn bắn vào trăm tên đang cố tiến vào thành, chúng đều chết một cách tơi tả, máu phun ra họng từng tên. Phan Hoài đành lập trận khiên rùa tiến lên trong lo sợ vì lúc này hắn cũng không ngờ đám quân ô hợp xứ Nam mà hắn truy tận diệt dễ dàng trong các trận trước giờ đây có huấn luyện bài bản tới cỡ vậy, thậm chí còn có thể sánh với quân bát doanh của Vũ Kiến Cát (vì thực tế con của Lê Uýnh là Lê Trắc huấn luyện chiến thuật của tinh linh cho Vũ Kiến Cát khiến cho nên quân thiện chiến phương Bắc vậy). Đội mai rùa hơn ba ngàn người tiến lên một cách chậm chạp do không ai muốn phải liều chết như các tốp quân trước đó nữa, nhưng sau đó bọn chúng lại thấy các hàng tre trên đầu đổ sập xuống trường khiên hai bên, đè nặng lên tấm thuẫn bài vốn đã khó khăn để cầm lấy rồi; nên hai bên sườn mai rùa, quân lính địch bỏ hết tấm khiên qua một bên. Nhưng điều này lại tạo cơ hội cho quân Lâm Nam ồ ạt lao ra tấn công bất ngờ từ hai bên trái phải đội hình mai rùa, quân Hậu Sở trở tay không kịp mà ngã xuống trên đất bùn. Đội hình của Phan Hoài đã thực sự không thể vững được nữa và Lê Uýnh ra tay bất ngờ, chém đứt hai tay của hắn và đâm vào ngực tên tướng trong vòng ba nhịp đao. Phan Hoài đứng liếc nhìn trong cơn tuyệt vọng, hỏi một cách chậm rãi đầy bất phục: ” Ngươi…ngươi là ai?” Lê Uýnh trả lời lấy: ” Ta là tiểu quan mang mệnh chức huyện lệnh Giao Bắc, tên là Lê Uýnh. Ta lấy mạng tên địch như nhà ngươi rửa thù cho anh em Lâm Nam đã ngã xuống!”, rồi tên Trọng Nam tướng quân của Hậu Sở nằm ngã xuống đất bùn mà chết. Cái chết của Phan Hoài đã khiến cho quân địch mất hết sĩ khí, ném giáo quỳ xuống van xin đầu hàng rất nhiều. Lần đột kích trại hữu quân của phe Sở tặc đã mất hơn 1 vạn tinh binh, bị bắt sống gần 4 ngàn người và phá vỡ cái danh xưng hư ảo rằng “tướng Hậu Sở thì ai ai cũng khiếp sợ” đối với các đạo phương Nam Trung Nguyên – vốn chưa bao giờ thắng trận nào trước Bá Vương Hậu Sở. Trong khi đó hữu trại của Ngô Huyền mà hai tướng Lê Uýnh và Nguyễn Tư trực tiếp tham chiến chỉ mất 300 quân trận này mà thôi. Việc này tới tai của Hạng Danh, hắn ta đã rất buồn bực và cho rằng diệt gọn quân địch không dễ như hắn tưởng. Nên thay vào đó, Bá Vương bèn cử Trần Hạo cùng 1 vạn quân giả cự với trung trại của Khúc Thừa Lan, còn cho 2 ngàn quân nữa coi động thái của hữu trại. Tấn công tả trại sẽ nhờ Nùng Trú Lăng mở cửa trại, cho hơn 3 vạn quân Hậu Sở do mình chỉ huy vào. Mặc kệ diệt bao nhiêu địch rồi để chúng chạy thoát, trong mắt Hạng Danh chỉ cần giết chết Khúc Thừa Lan là xong việc rồi. Vào sáng ngày 8 tháng tư, kế hoạch được thực thi như những gì Hạng Danh định sẵn (cùng với sự sắp xếp lại của Phạm Tùng). Quân Trần Hạo giữ thế kìm chặt trung trại, còn Nùng Trù Lăng cũng đã mở cửa thành cho Hạng Danh tiến vào cùng với 3 vạn quân. Lúc này trung quân của Khúc Thừa Lan bị bất ngờ, sĩ khí quân dù có nâng lên sau trận hữu trại nhưng việc bị đột kích từ tả trại và vả lại Nùng Trú Lăng làm phản đã làm cho Khúc Thừa Lan ộc máu ra khỏi họng mà ngửa Trời lên than:” Sao ngươi lại làm vậy, Nùng phản tử này? Lâm Nam mất vào tay giặc rồi!” – rồi sau đó ông lấy thuốc độc từ trong túi mà uống lấy, người sau nằm ngã xuống trên bàn trước trăm quân tướng sĩ. Toàn bộ trung quân lúc này như rắn mất đầu nên chạy toán loạn, mặc cho quân địch tha hồ mà giết tới. Nhưng lúc này, kỵ binh hơn 2 ngàn người do Lê Uýnh chỉ huy xung phong ra từ hữu trại, hét lên trước đào binh:” Các ngươi, quân Lâm Nam hèn nhát kia, hãy cầm lấy vũ khí ra chống lại quân địch đi!” – giọng to hùng hồn ấy làm đám lính đang chạy phải dừng lại nghe –“ Nếu không, cha mẹ nuôi nấng, vợ con các ngươi, trâu bò cấy cuốc dành dụm có được, nhà cửa ruộng đồng cũng sẽ không còn! Máu tươi đổ lên quê hương, các ngươi chịu để nó như vậy sao? Hãy nhớ những gì Hạng Danh đã làm với biên quân anh em ở ải Nam Dương, không ai sống dưới tay hắn cả! Hãy liều chết giết giặc, ném đá xuyên não đen lũ ma quỷ không phục Trời này, tiến lên!” Do có uy thế và thành tích nên chừng 8 ngàn quân tàn dư tập kết trận dưới sự dẫn dắt của Lê Uýnh và sau đó là 2 ngàn cung thủ của Nguyễn Tư, 1 ngàn binh chi viện của Ngô Huyền. Tổng binh lực chừng 1 vạn 3 ngàn người, thua kém xa 3 vạn tinh binh vốn đánh trăm trận trăm thắng của Hạng Danh. Hạng Danh tới nhìn tàn dư của quân Đô đạo tập hợp dưới trướng Lê Uýnh, hắn liền cười to lên:” Đây là toàn bộ những gì các ngươi có sao? Quả là đáng thương!” – hắn mỉa mai thêm rằng –“ Các ngươi nên đầu hàng và quy phục Bá Vương như ta, có thể hưởng được vinh hoa phú quý đời đời còn bằng không cắm đầu xuống địa phủ là vừa!” Dưới lời nói vừa kiêu ngạo vừa đe dọa ấy, Lê Uýnh không sợ mà hét lên:” Hạng Danh, ngươi nghĩ thực sự quân ta sẽ sợ ngươi dễ dàng vậy sao?” – Lê Uýnh cười lên một cách quái dị - “ Ha ha ha…ngay cả tướng tài của ngươi là Phan Hoài đem hơn vạn binh còn không địch nổi 2 ngàn quân của ta và Nguyễn Tư đốc suất. Và ta lấy đầu của hắn chưa đầy ba nhịp đao, vậy mà ngươi đòi ta hàng hoặc chết sao? Có gan thì quyết đánh đơn phương với ta nè, là một dũng thất phu thì há Trời phải sợ sao thì sao lại sợ ta? Trừ khi ngươi chỉ là hư danh hù dọa mà thôi, ha ha ha…” Lời khiêu kích đã khiến Hạng Danh không thể nào chịu nổi, hắn đã muốn chặt cái đầu chết tiệt của Lê Uýnh lắm rồi. Dù Phạm Tùng khuyên can ra sao thì hắn cũng không bỏ vào lọt tai mà nghe, quyết chỉ muốn cầm đao thẳng tiến tới chủ tướng địch phía trước, phần vì hắn muốn gỡ lại sĩ diện, phần vì muốn báo thù cho hạ tướng Phan Hoài mà hắn tin dùng. “Xin bệ hạ cử Chu Lệ ra nghênh chiến với chủ tướng địch! Đừng nên mạo hiểm ra đánh với một tên mờ ám hành tung như vậy, vì hắn có nhiều quỷ kế, xuất ẩn bất ngờ!” – Phạm Tùng van xin Hạng Danh đừng liều mạng ra trận, vì nếu Bá Vương mà xảy ra điều gì thì quân tâm sĩ khí dễ lung lay, trận chiến sẽ như đang thắng chuyển thành bại. Nhưng Hạng Danh, phần bởi lòng cam phẫn cùng với sĩ diện nên đã tự chép miệng nói ra lời bất đắc dĩ với mưu sĩ già:” Xưa khi tông tổ lập quốc của nước ta là Hồng Sanh (Hạng Doanh) ở Thiên Bình Cốc (thuộc phía Tây Nam đạo Lĩnh Đông) đã một mình giết chết tướng địch là Khương Dung – chủ soái của nước Tề mà Hồng Sanh tiên tổ cùng 3 vạn quân của ông đánh đuổi được 80 vạn quân Tề[2], dựng nên nước Sở bá hùng Trung Nguyên. Nay ở Đông Hoàn, địch ít hơn ta mà ta không dám anh tài uy phong mà đấu chiến với tên Lê Uýnh này, không khác nào sĩ nhục với tướng sĩ, sĩ nhục với tổ tiên của ta ấy chứ? Ta biết ngài lo cho ta, thưa tiên sinh nhưng ta buộc lòng phải đánh trực tiếp với tên thất phu này!” Hạng Danh cầm đại trường đao dài hơn 8 trượng và cưỡi hắc mã chạy nhanh tới trước Lê Uýnh, còn Lê Uýnh thay đao trường nhỏ bằng kích ba mũi – tuy không dài bằng đại trường đao của Hạng Danh nhưng lại có nhiều mũi kích hiểm cho đối phương; Uýnh phi đến phía Hạng Danh với con bạch mã thiên tốc của tộc tinh linh. Cả hai đều có khí thế của các dũng sĩ từ trời giáng xuống, nhưng Lê Uýnh hơn một bậc bởi mặc áo giáp tấm thép cứng sáng loáng như hộ binh tướng của Trời hàng đầu còn giáp trụ xanh tím của Hạng Danh thì nhìn không bằng của Lê Uýnh. Khi còn cách ba bước chạy ngựa thì cả hai đưa vũ khí bậc nhất của mỗi bên ra trước mặt ngựa, hai trường thương chói lên tia lửa rực lúc va chạm vào nhau. Hạng Danh dốc hết sức, lấy đại trường đao đâm thẳng vào ngực của Lê Uýnh, hắn quát lớn: ” Cho nhà ngươi chết!” Trường đao ấy nhanh, hiểm và độc nhưng mũi đâm đó lại bị kích ba mũi của Lê Uýnh đẩy vòng ra phía ngoài, không thể đâm thủng vào tim của vị tướng cưỡi bạch mã nổi. Lê Uýnh cười và lấy kích thương chĩa thẳng tới mặt Hạng Danh: ” Chỉ có như vậy thôi sao, Bá Vương Sở tặc?” Hạng Danh đỡ được đòn của Lê Uýnh, nhưng hắn thấy tài cầm thương của tên địch này không hề tầm thường, thậm chí còn làm hắn khổ sở đỡ chiêu liên tục hơn là lúc giao thương, đánh các hiệp so hơn thua với Vũ Kiến Cát rất nhiều – làm như Vũ Kiến Cát học được tài nghệ binh thuật từ chính Lê Uýnh vậy. Hạng Danh vừa tán phục vừa mỉa mai: ” Quả là võ thuật nhà ngươi rất giỏi, nhưng thế không đủ giết được ta bởi ta từng trải qua trăm trận khác nhau, rất nhiều kẻ từng có tiềm năng nhưng đều chết dưới tay của ta hết cả rồi!” Hạng Danh bạo nộ xung ngựa lên cao, dùng hết sức định đâm vào bụng của Lê Uýnh ở sườn bên trái – đây thực sự là chiêu thức rất là khó đỡ và là độc chiêu riêng của Bá Vương Hậu Sở. Nhưng thực tế khi lưỡi đao định đâm vào phần hở không có giáp tấm thì thương ấy đâm vào mà không hề có cảm giác xuyên thịt, lại như lấy tay bóc tiền đồng kêu “ken ken”, máu không hề chảy ra từ thân thể Lê Uýnh. Hạng Danh vô cùng sửng sốt hỏi:” Sao đòn hiểm của ta lại không có tác dụng gì cả?” – bởi hắn đang xuyên vào giáp xích phía dưới của bụng Lê Uýnh nên đòn hiểm độc vô phương. Lê Uýnh cười lớn và nói rằng: ” Đây là giáp xích mà tổ tiên ta được tộc tinh linh tặng, vốn là hàng quý từ phương xa do một tộc khác rèn nên tặng cho tinh linh. Giao tình lâu nên tổ tiên ta mới có được món trang bị này. Thiệt mọi thứ trên đời này không thể xuyên thủng nổi nó cả, kể cả chùy nặng và hỏa công!” Thực sự, giáp xích bọc sau tấm giáp mới chính là thứ quan trọng mà khiến Lê Uýnh không sợ đối đầu trực diện với thần soái Bá Vương. Cả gia sản của một vùng cũng không mua nổi thứ giáp thần tiên này. Hạng Danh đã quá chấn kinh khi nghe câu này, bởi cho dù có dốc hết sức dùng trăm hiểm chiêu thì cũng không động nổi cả một sợi lông của vị tướng kiêu dũng bên kia. Nhưng hắn không thể chạy, vì quân tâm sĩ khí còn do trận quyết sống còn này mà định, nếu mà chạy thì sẽ mất hết uy tín và cơ đồ của Hậu Sở có từ trước tới giờ. Cả hai tung đòn, xuất chiêu đánh hơn 50 hiệp từ canh ba tới canh năm, không ai nhường ai bất kỳ lúc nào. Nhưng sức lực của Hạng Danh ngày càng kiệt quệ còn Lê Uýnh có dáng vẻ ung dung, như đánh tập trận với con nít. Cuối cùng, thân kích của Lê Uýnh quất thẳng vào ngực của Hạng Danh khiến hắn ngã xuống ngựa, áo ngực bể thành trăm mảnh, thân nằm thẳng xuống đất, không thể nào cử động được. Khuôn mặt của hắn cực kỳ thê thảm và không nói nổi lên lời do kinh hãi trước lối đánh của Lê Uýnh. “Ta sẽ tha mạng sống ngươi, nếu như quân ngươi không đuổi theo đánh quân Lâm Nam ta” – Lê Uýnh dõng dạc nói một cách nhân từ nhưng ông cũng yêu cầu điều kiện –“ Giờ đây, ta sẽ rút khỏi Đông Hoàn cùng quân ta. Nếu ngươi thất hứa thì lần sau cái đầu ngươi ta sẽ lấy!” Lê Uýnh phi ngựa về phía quân ông trong sự reo hò, vui mừng của tướng sĩ đang sôi sục. Ông nói với họ rằng: ” Giờ là lúc quân ta phải bỏ trại, dời tàn quân về Hưng Lâm 370 dặm về phía Đông Nam.” – ông giải thích rằng –“ Bởi Sở tặc còn rất nhiều quân, mà quân ta ở lại đây sẽ vào thế vây cô từ cả Trần Hạo, Vương Tâm và Nùng Trú Lăng!” Cả binh sĩ lúc này từ vui mừng trở lại lúng túng vì không hiểu ý của vị tướng, có người nhỏ giọng nói:” Hả? Sao lại rút quân chứ? Ta đang thắng…mà?”, nhưng họ vẫn tuân theo lệnh của vị chỉ huy uy tín, đã đánh thắng bách chiến thần của Hậu Sở, là ác ma tranh hùng với Vũ Kiến Cát. Lê Uýnh cũng nói với Nguyễn Tư: ” Ông mau cử người báo với Ngô Khởi, Dương Kiên, Dương Lâm, Hồ Bạch và các hào tộc khác rằng Đô đạo Khúc Thừa Lan đã tuẫn tiết để bảo vệ danh dự nên giờ phải tập trung quân ở Hưng Lâm báo thù cho chủ. Cử ra các nhóm kỵ binh phi báo gấp trong nội 5 ngày!” Khi toàn quân Lâm Nam dời đi thì đạo quân Hậu Sở gồm 5 ngàn kỵ binh do Chu Lệ và Phạm Tùng chạy tới Hạng Danh đang nằm liệt người, ủ rũ một mình trên bùn đất, sa ngã thành vị bại tướng bất phục, phá vỡ chiến tích không thua cuộc đấu thương nào. Tới nơi, bọn chúng khiêng vị Bá Vương lên kiệu để chữa thương. Phạm Tùng nói với lời lẽ buồn bực, ấm ức vì không chạy kịp cứu lấy Bá Vương: ” Thần thực sự có lỗi với đại vương, đáng lý ra khi lúc đại vương đang yếu thế thì chúng thần đem quân ùa ra giúp lấy. Xin đại vương hãy quở trắc phạt chúng thần!” Hạng Danh chỉ cười nhẹ mà giơ tay xoa xoa, ám chỉ trách mình thôi: ” Đó là do ta hồ đồ, không phải lỗi của tiên sinh đâu mà tự trách mình tới vậy? Thực sự ta đã không nghe lời tiên sinh mà liều cái mạng ngu xuẩn này đấu với con quái thú không rõ tung tích. Ta mới là kẻ có lỗi!” Hạng Danh nói một cách chua xót cũng như khâm phục tài chiến đấu của tướng địch: ” Lê Uýnh, hình như hắn chỉ là huyện lệnh nhỏ bé của một châu khỉ ho cò gáy mà lại có hội minh với tinh linh nổi vậy? Cả đời ta chưa bao giờ biết cách chiến đấu của người tinh linh ra sao nhưng ta nghe nói khi xưa bọn quỷ tộc tràn lan vào Trung Nguyên thì các chiến binh tinh linh thực quả kiên cường và hữu toàn song kích, người địch trăm tên không hề nao núng mà giành lại đất cũ. Nay nghe lời Lê Uýnh kể thì ta tin hắn có tám phần trong mười phần lực chiến và nghệ thuật tài hoa của tộc tinh linh. Không thể nào mà đánh quy ước trực tiếp với hắn nổi, đây là điều bất khả thi!” Tuy trận Đông Hoàn là quân Hậu Sở giành lấy chiến thắng, nhưng trận chiến này không khác nào là quân địch nhường cho Hạng Danh thắng, còn Hạng Danh phải chịu đủ nhục nhã vì mất đi thân tướng cận thần Phan Hoài mà còn bị Lê Uýnh đánh ngã ngựa, suýt chút nữa chết ở sa trường rồi. Quân Hậu Sở được Nùng Trú Lăng và Vương Tâm chở binh qua hồ Thiên Hoàn chiếm lấy thủ phủ Lâm Nam, và hai tên phản gian này đều được Hạng Danh phong chức: Nùng Trú Lăng làm Đô đạo còn Vương Tâm làm phó Đô đạo. Dù sao không có hai tên phản gián này, e là toàn quân Hậu Sở có khi phải chết hết trước khi lấy được lũy nên Hạng Danh thưởng cho chúng chức hèn nhỏ mọn này chẳng là bao, dùng chính người Lâm Nam diệt người Lâm Nam mà thôi. Vì quá mệt mỏi và mắc đủ chướng bệnh bởi khí trời xứ Nam này nên Hạng Danh rút hết đại binh về nước, còn lại để cho bọn tay sai tự xử, miễn thu đủ thuế cho chúng là được. Hai tên này cũng vơ vét hết tài sản của Lâm Nam, trưng thu thuế khắp nơi làm cho lòng người oán giận và mong có vị cứu tinh tới giải thoát chúng sinh khỏi bọn cầu vinh phản nước ức hiếp dân lành. Khi tốp lính tàn dư Lâm Nam rời khỏi Đông Hoàn về tới đồn doanh kháng chiến ở Hưng Lâm, người dân các nơi ở châu Lâm đều ra nhìn mặt của Lê Uýnh – vị tướng đã cứu lấy binh sĩ khỏi “quỷ vương” của Hậu Sở và đánh bại Hạng Danh – đệ nhất chiến thần Trung Nguyên. Ghe, thuyền đua nhau đậu lại muốn gặp lấy đoàn quân tuy rút quân khỏi chiến trường nhưng đã mang về tiếng tăm cho xứ rằng trời Nam có dũng tướng không thua gì các tướng lĩnh đứng đầu Trung Nguyên như Vũ Kiến Cát, Đồ Nhĩ Sư và Chu Lệ. Sau này, người đời truyền nhau thơ khen lấy vị tướng xuất thân ở biên thùy này: “Gió thổi rào rào trống kêu sang, Một vị tướng mang ánh đao quang, Quật ngã ác thần thật kiêu hùng, Cứu nguy toàn quân bật sĩ khí, Oai phong lẫm liệt không kể siết, Dân Nam nhớ mãi chẳng hề phai.” Lê Uýnh tới doanh trại tập kết, ông gặp cả quân sư Cự Tiên và vợ là Đông Nhi; cả hai đều mừng rỡ và xúc động khi gặp lại vị huyện lệnh nhỏ bé năm nào, giờ lại được chính Ngô Huyền và Nguyễn Tư tôn lên làm tướng soái của ba quân. “Ta mong chàng vẫn không bị sao hết cả, lâu rồi chàng mới trở về làm ta nhớ thương vị tướng chinh chiến xa vợ con làm sao!” – Đông Nhi nói một cách chậm rãi nhưng đầy chân tình, hỏi han. “Nàng đừng lo cho ta, bởi ta không bao giờ để nàng chờ lâu đâu chứ? Ta sẽ không bao giờ đi quá lâu để nàng lo lần nữa!” – Lê Uýnh nói một cách xoa dịu bất an của một người vợ chờ chồng xa nhà. Sau khi trò chuyện một lát với vợ mình thì Lê Uýnh nói vợ hãy nghỉ ngơi rồi chuyển sang nhìn trước mặt Cự Tiên với một ánh mắt không rõ cảm xúc cụ thể, còn Đông Nhi thì cũng hiểu chuyện nên đã đi ra khỏi chỗ nghị sự để cho hai vị nam nhân bàn tán đại sự riêng mà có sự yên tĩnh. “Ta thực sự là kẻ hại chết người, là kẻ diệt đi trụ cột của biết bao gia đình…” – Lê Uýnh mắt đỏ hoe mà ngậm ngùi vì ông đã thực thi mưu kế của Cự Tiên mà hại chết biết bao sinh linh, trong đó có cả vị Đô đạo họ Khúc –“…ngài nghĩ việc này có thực sự là đúng với nhân tính con người hay không? Nó có thực đủ đáng để đổi lấy hay không?”, lúc này Lê Uýnh đã tự trách mình liên tục, mất cả lý trí trong người trước đó. Nhưng Cự Tiên lại bình thản đáp lại rằng: ” Ta không nên tự trách mình khi thế cục đặt sẵn cho ta điều bất lợi mà ta phải vượt qua, bởi không đập muỗi thì muỗi cũng sẽ đốt lại ta. Ngài đã làm rất tốt những sách lược chúng ta đặt sẵn trước đó, ấy là “tiêu dao” – nhìn nhận cục diện thay đổi trước cũng như làm giống như không làm, tĩnh mà thực là động. Nếu như ngài cứu lấy vị Đô đạo thì sẽ có tiếng phò tá và trung nghĩa nhưng Thừa Lan lại là một người tuy cẩn trọng quá mức nhưng dễ bị giàng xé bởi danh dự và dụ dỗ từ bên ngoài: ông ta thậm chí còn không để tâm tới việc luyện tập binh sĩ mà dựa quá nhiều vào thế lực địa phương hỗ trợ - những tên có thể vì chức mà họ Khúc nắm mà cầu viện ngoại bang, gây nên hỗn loạn trong nước. Cho nên việc họ Khúc không còn nắm Lâm Nam là một điều tốt cho sách lược hành động của chúng ta hơn. Vả lại, việc ngài một mình mà đánh bại Hạng Danh giúp uy thế binh sĩ tăng, toàn Lâm Nam ai ai cũng biết hết” Cự Tiên nói thêm về chiến lược tiếp theo cần phải thực hiện: ” Lúc này cũng là cơ hội tốt để lấy uy tín khắp đạo, vì Hạng Danh mệt mỏi mà về để lại Trịnh Soài cùng 2 vạn thủ tốt ở Lân Nội để ức hiếp dân quanh vùng. Sau khi chấn chỉnh quân ngũ thì dẫn quân vây lấy phủ Lân Nội và dẹp tan bù nhìn của Hậu Sở, từ đó mà ngài đứng đầu Lâm Nam vậy!” “Ta đâu có thể dẫn dắt nổi cả xứ Nam như vậy chớ? Mà…mà chừng nào vị quân sư người Hỗn tộc đi tới Lâm Nam vậy?” – Lê Uýnh thắc mắc về vị quân sư mà Cự Tiên hứa sẽ liên lạc giúp. “Ngài chỉ cần nghỉ ngơi và chờ tới một tuần thì vị ấy sẽ đến gặp ngài mà thôi” – Cự Tiên quả quyết, mỉa cười đáp –“Khi ấy, ngài sẽ thưởng lãm tài cơ tiên diệu của vị ấy!” **Chú thích: [1] Là biển nội nối với các con sông lớn ở Đại Lục, là trung tâm của việc giao thương, kinh doanh. Hải Tây cũng là nơi tranh giành lãnh thổ, địa bàn buôn bán của các thế lực. [2] Thực tế là 5 vạn.
Chương trước Chương tiếp
Chọn chương
Bình luận
Báo lỗi chương
Chỉnh chữ